Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Đặc điểm thị trường bất động sản năm 2011
Cập nhật: Thứ ba, 3-1-2012

Siết tín dụng khiến thị trường bất động sản (BĐS) tê liệt; liên tiếp các vụ vỡ nợ BĐS xảy ra trong một thời gian ngắn; đói vốn, chủ đầu tư ồ ạt bán tháo và khuyến mãi BĐS để thu hút người mua; thị trường bất động sản năm 2011 chuyển từ người bán sang người mua…là những đặc điểm nổi bật của thị trường BĐS trong năm 2011

Thắt chặt tín dụng BĐS, nhiều "đại gia" lao đao

Thực hiện Nghị quyết số 11 của Chính phủ về giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, các tổ chức tín dụng giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với năm 2010, nhất là BĐS và chứng khoán. Đến 30/6/2011, tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa là 22% và đến 31/12/2011, tỷ trọng này tối đa là 16%.

Ngay sau khi có chỉ thị này, các ngân hàng thương mại đồng loạt siết tín dụng đối với BĐS đồng thời nâng cao lãi suất cho vay. Hệ quả là hàng loạt các dự án phải “đổi chủ”, giãn tiến độ, nhiều ngành nghề sản xuất trong lĩnh vực BĐS cũng bị rơi vào khó khăn. Không ít nhà đầu tư “ăn sổi” đã phải dừng “cuộc chơi” với BĐS, thậm chí đến cả những “ông lớn” trong lĩnh vực này cũng rơi vào tình cảnh lao đao.

BĐS rơi vào tình trạng “khủng hoảng”, vỡ nợ

Chịu sức ép lãi suất cao, áp lực từ vốn vay ngân hàng, giao dịch trên thị trường trầm lắng buộc một số doanh nghiệp phải giảm giá bán từ 15 -25%, thậm chí bán lỗ để tháo vốn trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên, chỉ có phân khúc chung cư giá bình dân và đất thổ cư là có giao dịch, còn lại các phân khúc khác đều “bất động”.

Không bán được hàng, khoảng 60 -70 dự án BĐS các loại bị đình trệ rơi vào trạng thái chờ hoặc kéo dãn tiến độ, giá giảm mạnh nhưng thị trường vẫn hầu như không có giao dịch. Đó là chưa kể những lùm xùm của dự án Nam An Khánh khiến Thanh tra Chính phủ phải đề xuất tạm dừng dự án. Điều này cũng làm cho thị trường BĐS càng trở nên u ám.

Giá đất chào bán tại các dự án đình đám như Vân Canh, Splendora (Bắc An Khánh), Glemximco... liên tục giảm mạnh. Đơn cử, tại Geleximco, giá đất liền kề các trục đường nhỏ giảm khoảng 3 -5 triệu đồng, còn 38 triệu đồng/m2, liền kề trục đường to giảm khoảng 7 triệu đồng, còn 45 - 48 triệu đồng/m2.

Cùng với đó, làn sóng vỡ nợ liên tiếp xảy ra gây hoang mang đối với các nhà đầu tư. Hàng loạt các vụ vỡ nợ tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hưng Yên... quy mô hàng trăm tỷ đồng đã bị phanh phui và những vụ vay mượn này chủ yếu đầu tư vào các thị trường BĐS, tài chính...

Đáng chú ý, hầu hết các "con nợ" lớn như Nguyễn Thị Minh Tâm (SN 1961, Bắc Ninh), Nguyễn Thị Cúc (1976, Phú Xuyên), vợ chồng Quang Quyên (thị trấn Phùng)... đều được xếp vào hàng đại gia BĐS tại Hà Nội. Những vụ vỡ nợ "tín dụng đen" thời gian qua đã ảnh hưởng đến niềm tin của các nhà đầu tư. Nhất là đối với những người đã dùng uy tín của mình đứng ra thu gom tiền của bạn bè, gia đình cho vay lãi suất cao với sự hứa hẹn về khả năng sinh sôi khoản tiền để rồi dẫn đến đổ bể.

Làn sóng “đại hạ giá” và “bán tháo” BĐS

Thị trường BĐS đang trong chuỗi ngày “đen tối” thì đón nhận thông tin Công ty cổ phần truyền thông Asean C&C sẽ tổ chức "Ngày hội mua nhà giá gốc" trong 3 ngày 21 - 23/10/2011 tại Trung tâm hội nghị quốc gia (Mỹ Đình, Hà Nội). Sau nhiều lần trì hoãn, trục trặc, cuối cùng sự kiện cũng diễn ra nhưng các gian hàng lại luôn trong tình trạng vắng vẻ. Hơn 50% doanh nghiệp BĐS lớn hủy bỏ ý định tham gia, cả người bán lẫn người mua đều tỏ ra“thất vọng” về ngày hội này.

Ngay sau đó, Cty cổ phần địa ốc dầu khí (PVL) gây sốc cho thị trường BĐS khi tiến hành giảm 35% giá trị căn hộ thuộc dự án Petro Vietnam Landmark (Quận 2, TPHCM). Quá trình bán hạ giá căn hộ của PVL khiến nhà đầu tư đi từ vui mừng đến hẫng hụt do điều kiện mua ngặt nghèo, không khuyến khích khách hàng của chủ đầu tư. Không chỉ yêu cầu bốc thăm 15 trong số 85 căn hộ hạ giá, khách hàng còn phải trả ngay 100% giá trị trong khi không được sử dụng ngay.

Mới đây, Chung cư VP3 bán đảo Linh Đàm – Hà nội cũng công bố giảm giá bán. Giá công bố bán VP3 cách đây 7 tháng là 31-32 triệu đồng/m2, thì nay giá chính thức được đưa ra là 25 triệu đồng/m2, đã bao gồm các loại phí và VAT.  Những người đã tham gia góp vốn đợt 1 với giá cũ sẽ được khấu trừ ngay khoản tiền đóng vào đợt 2. Toàn bộ các khách hàng đăng kí mua mới kể từ ngày 15/12 sẽ được mua với giá 25 triệu/m2 và được kí hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư.

Bất động sản đang tìm đến nhu cầu thực :

Hiện nay thị trường chỉ tập trung giao dịch ở phân loại nhà ở có mức giá vừa phải. Những dự án này chủ yếu có vị trí nằm ở khu vực vùng ven Thủ đô, nằm bên ngoài đường vành đai 3. Giá bán thường dao động khoảng từ 15 -20 triệu đồng/m2, tương đương khoảng từ 1 – 1,5 tỷ đồng/căn hộ. Dự án Dream Tower do Coma6 làm chủ đầu tư và được Đất Xanh Miền Bắc phân phối với giá từ 17,8 triệu đồng/m2 nằm tại Xuân Phương, Từ Liêm Hà Nội. Mới đây, An Bình Tower tại Cổ Nhuế do Cen Group phân phối cũng được chào bán với giá khá mềm 15,1 triệu đồng/m2, dự án CT5 Xa La mở bán những 32 căn diện tích từ 36-60m2 với mức giá chỉ 11,5 triệu đồng/m2 đã gây xôn xao trên thị trường và đã được khách hàng đón nhận rất sôi động.

Trong thời gian tới, một dự án căn hộ khác là chung cư Tân Tây Đô có giá 15,3 triệu đồng/m2 sẽ được Đất Xanh Miền Bắc phân phối. Diện tích căn hộ từ 76,3m2 đến 107m2, nên căn hộ cũng chỉ từ 1,2 - 1,6 tỷ đồng/căn.

BĐS nghỉ dưỡng phát triển mạnh

Trong khi sức cầu thị trường sụt giảm mạnh, nguồn cung căn hộ cao cấp, đất nền ra nhiều nên thị trường BĐS như bội thực thì phân khúc BĐS nghỉ dưỡng vẫn liên tiếp chào hàng. Năm nay, có thể nói là năm “hoàng kim” của phân khúc này.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khu vực phía Bắc hiện có khoảng 20 dự án BĐS nghỉ dưỡng đang trong quá trình xây dựng như Green Villas, Nine Ivory, Country House, Grand Area Hills, Top Hill Villas, The Melody Villas hay Paradise Dai Lai Resort… đều do các tên tuổi nổi tiếng như Công ty Cổ phần Archi Land Việt Nam, INT Group và Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Nhật Hằng làm chủ đầu tư.

Miền Trung và miền Nam cũng có hàng loạt dự án như The Summit (Đà nẵng);  Nha Trang Center, Condotel Stacity Nha Trang ; Saint Simeon Oceanami Resort & Luxury Home, Blue Sapphire tại bờ biển Chí Linh, Vũng Tàu; Saint Simeon, Evason Hideaway (Côn Đảo)…

Giới đầu tư nhận định rằng, xu hướng người dân có nhu cầu sở hữu căn nhà thứ hai là một nơi để nghỉ ngơi, giải trí sẽ ngày càng phát triển. Ngoài tính an toàn cao, số tiền đầu tư lớn nên phân khúc này sẽ chủ yếu hướng đến những người có nhu cầu thực thay vì nhà đầu cơ lướt sóng.

Xuất hiện chung cư “mini”

Sự ra đời của hàng loạt dự án chung cư mini đã giúp giải cơn khát về nhà ở cho người dân tại các thành phố lớn, nhất là những đối tượng có thu nhập thấp. Mặc dù đã được cảnh báo về pháp lý cũng như mức độ an toàn của nó những người vẫn lựa chọn căn hộ chung cư mini tư nhân. Do nhu cầu quá lớn, đã đẩy giá bán của loại hình nhà ở này liên tục tăng cao, thậm chí có khu vực tăng lên tới 25 triệu/m2.
Loại hình chung cư mini mới chính thức được pháp luật thừa nhận hơn 1 năm nay nhưng đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập. Mới đây lại rộ lên thông tin, chung cư mini đang đua nhau kêu gọi góp vốn dự án, phớt lờ quy định của cơ quan quản lý, nhiều chủ đầu tư không tuân thủ đúng các yêu cầu về quy chuẩn xây dựng. Trong khi đó, việc giao dịch mua bán lại chưa được các cơ quan quản lý chặt chẽ.

Thị trường chuyển từ người bán sang người mua

Trước đây, người bán được quyền quyết định thị trường nhưng bây giờ người mua được làm điều ấy. Người mua được quyền mặc cả, được quyền áp đặt về giá và người mua quyết định sản phẩm đó có thành công hay không. Thời điểm này, không phải cứ có hàng là bán được, khách hàng họ không tự tìm đến sàn nữa mà ngược lại.

Chủ đầu tư dự án Uni Town là Becamex TDC đã chịu chơi khi ra tận Hà Nội tổ chức một chương trình giới thiệu về dự án Thành phố mới Bình Dương và đã gây “choáng” khi công bố: chỉ cần thanh toán từ 4 - 10% giá trị hợp đồng, khách hàng có thể nhận nhà ngay trong năm 2012. Khoản tiền còn lại được thanh toán trong 54 tháng. Giá trị một căn nhà phố nơi đây khoảng 5 tỷ đồng, với diện tích đất nền hơn 100m2.

Bên cạnh đó, khoản tiền nộp còn lại còn được chia thành 29 đợt nhỏ khác, thanh toán trong 54 tháng. Chịu chơi hơn nữa, từ nay đến hết 24/12, chủ đầu tư còn dành tặng 200 vé máy bay cho khách hàng quan tâm vào thăm dự án, và nhận vé khứ hồi nếu đăng ký mua...

Nhà phân phối chơi cũng không kém. Công ty Địa ốc Cát Vàng hiện là nhà phân phối trung tâm thương mại 271ha ở Mỹ Phước với giá đất thổ cư có sổ đỏ 158 triệu đồng/110m2. Tính ra, mỗi mét vuông chỉ khoảng 1,2 triệu đồng.

Thế nhưng, để hấp dẫn khách, Cát Vàng khẳng định khách ký hợp đồng sẽ được tặng ngay 1 chỉ vàng SJC hoặc vé máy bay khứ hồi nếu ở xa.

Không chịu thua, Công ty Địa ốc Kim Oanh rao bán nền đất có “vị trí vàng” nằm đối diện Đại học Quốc tế, thuộc khu trung tâm quận Bến Cát tương lai với giá 318 triệu đồng/nền. Khách hàng sẽ được tặng ngay 3 chỉ vàng SJC khi giao dịch sản phẩm mặt tiền.

Khủng hơn cả là ở công ty Địa ốc Tấc đất Tấc vàng, công ty này mở bán block đất nền sổ đỏ cạnh trung tâm thương mại Luxurious ven hồ Ngọc Bích, gần Đại học Quốc tế và khu thể dục thể thao. Khách không chỉ mua giá gốc trực tiếp từ chủ đầu tư mà còn nhận được nhiều quyền lợi khuyến mãi trong tuần nếu như mua nhà phố được chiết khấu 5%, biệt thự được chiết khấu 10% và 1 lượng vàng SJC.

B.T

Cập nhật: Thứ ba, 3-1-2012

Dư thừa công suất, tiêu thụ giảm mạnh, hàng trăm nghìn tấn thép tồn kho không tìm được đầu ra. Nỗ lực đẩy mạnh xuất khẩu nhưng lại đối diện với nguy cơ bị kiện chống bán phá giá cùng với đó là lãi suất ngân hàng cao, nguyên vật liệu và chi phí cho sản xuất tăng cao… Khó khăn chồng chất bủa vây các doanh nghiệp ngành thép, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Giải pháp nào giúp ngành thép vượt qua khủng hoảng trong ngắn hạn và phát triển bền vững trong dài hạn vẫn là vấn đề không dễ giải quyết.

Tăng trưởng âm 8% trong năm 2011

Năm 2011 là năm đặc biệt khó khăn đối với ngành thép. Chính sách cắt giảm đầu tư công và thắt chặt tín dụng theo Nghị quyết 11 đã dẫn tới sự sụt giảm của ngành xây dựng công nghiệp và dân dụng - vốn chiếm khoảng 34% tổng nhu cầu của ngành thép. Lượng tiêu thụ thép trong nước năm 2011 ước tính giảm khoảng 8% so với năm trước.

Theo ông Nguyễn Tiến Nghi - Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), kết thúc năm nay có thể ngành thép sẽ tồn kho khoảng 300 - 400 nghìn tấn. Con số này được xem là cao hơn bình thường (bình quân hàng tồn kho duy trì ở mức 230 nghìn – 250 nghìn tấn).

Về đầu tư mới, trong năm 2011 có 5 công ty cán thép có thể bắt tay vào sản xuất được, bao gồm: Thép Thái Trung (Thái Nguyên) 500 nghìn tấn; 3 nhà máy ở Đà Nẵng, công suất mỗi nhà máy là 250 nghìn tấn và một nhà máy ở Bình Dương công suất cũng 250 nghìn tấn...Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, hầu hết các nhà máy này đều chưa có ý định đưa dây chuyền vào sản xuất.

Công suất thép cán cả nước trong năm qua là 9 triệu tấn; trong khi đó tiêu thụ trong nước khoảng 5,6 triệu tấn (doanh nghiệp thành viên Hiệp hội là 4.900 tấn, doanh nghiệp ngoài Hiệp hội 700 tấn). Như vậy, công suất thép dư thừa năm nay sẽ khoảng 4 triệu tấn.

Chính vì thế, cạnh tranh trong ngành thép sẽ vẫn tiếp tục khốc liệt trong thời gian tới; những doanh nghiệp có cơ cấu vốn vay cao, đầu tư lại không hợp lý sẽ rất khó tồn tại. Thực tế, rất nhiều DN phải sản xuất cầm chừng, có nhà máy chỉ hoạt động 40- 45% công suất, thậm chí chỉ 20% công suất. Dù chưa tuyên bố phá sản nhưng có nhà máy phải dừng sản xuất, nếu có bán hết hàng tồn kho cũng không đủ trả lương công nhân chứ đừng nói đến việc trả nợ bảo hiểm hay vốn vay ngân hàng.

Bước sang năm 2012, kinh tế trong nước vẫn chưa hết khó khăn nên ngành chỉ đặt kế hoạch sản xuất khoảng 9,8 triệu tấn, tăng 4% so với 2011 và tiêu thụ thép dự kiến chỉ tăng ở mức 4% so với năm 2011.

Phá vỡ quy hoạch dẫn đến cung vượt cầu

Theo Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam (VSA), hiện các DN ngành thép đang đối diện với nguy cơ bị kiện chống bán phá giá từ các nước như Mỹ, Thái Lan, Indonesia. Lượng thép xuất khẩu của Việt Nam không lớn, nhưng gần đây lượng xuất khẩu tăng cao, cộng thêm với giá bán ở mức khá thấp, đã khiến các nước đối tác xem xét đến phương án kiện để bảo vệ sản xuất nội địa.

Thực tế, nếu nhìn ở góc độ khác thì nguyên nhân sâu xa dẫn đến nguy cơ bị kiện của ngành thép Việt Nam có lẽ là do tình trạng cung vượt quá cầu hiện nay. Theo tính toán của VSA, dự kiến đến 2015, cả nước cần khoảng 15 triệu tấn thép và năm 2020 là 20 triệu tấn thép. Trong khi đó tổng công suất thiết kế của các dự án lên tới 26 triệu tấn/năm, đó là chưa kể dự án 5 triệu tấn của tập đoàn Tata (Ấn Độ) liên doanh với Tổng công ty Thép Việt Nam tại Hà Tĩnh và dự án thép tấm cán nóng Bà Rịa - Vũng Tàu (Tông công ty Thép Việt Nam mua lại của Tập đoàn Essar) 2 triệu tấn/năm, nằm trong quy hoạch nhưng đang gặp khó khăn…

Như vậy có thể thấy, việc phá vỡ quy hoạch và những hệ lụy của ngành thép đã rất rõ ràng. Lúc này, cuộc khủng hoảng thừa thép đã không còn ở dạng “nguy cơ” mà nó đang hiện hữu, tác động tiêu cực đến chính các DN, đẩy ngành thép vào tình trạng khó khăn không lối thoát như hiện nay.

Vấn đề là chúng ta đã nhìn ra bất cập trong việc phá vỡ quy hoạch ngành thép nhưng lại không thể tìm ra biện pháp để giải quyết.

Lợi ích cục bộ địa phương lâu nay đã được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc bung ra của các nhà máy thép. Tình trạng địa phương nào cũng muốn “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, ưu tiên “trải thảm đỏ” để mời gọi các dự án công nghiệp đã trở nên phổ biến. Chính vì thế, nhiều dự án thép, dù về nguyên tắc, không thuộc thẩm quyền của địa phương cấp phép nhưng vì lợi ích trước mắt, vì tư duy “nhiệm kỳ” mà không ít lãnh đạo địa phương đã tìm cách “phù phép”, biến các dự án cấp Trung ương phê duyệt thành dự án thuộc cấp “tỉnh” để mưu lợi.

Xét ở góc độ địa phương, việc mọc lên một nhà máy thép có thể khiến địa phương đó có diện mạo của một tỉnh tiến dần tới công nghiệp hoá. Nhưng hẳn người ta chưa nghĩ đến những hậu quả về ô nhiễm môi trường, về nguy cơ thiếu điện và sát thực hơn là nguy cơ phá sản của chính các DN thép khi mà cuộc khủng hoảng thừa ngày càng nặng nề hơn. Đó là chưa kể, chỉ còn 6 năm nữa thôi, khi chúng ta buộc phải mở cửa thị trường, chấm dứt hoàn toàn chính sách bảo hộ đối với sản xuất thép, cuộc cạnh tranh sẽ vô cùng khốc liệt…

Theo số liệu của Bộ Công Thương, đến nay, cả nước có 65 dự án thép có công suất thiết kế từ 100.000 tấn/năm trở lên, trong đó có 58 dự án trong nước và 7 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư là 41.623 tỉ đồng và 19.878 triệu USD. Điều đáng nói là trong số các dự án kể trên, có tới 32 dự án không thuộc danh mục quy hoạch đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tập trung ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hải Dương... Trong số này có hơn 20 dự án là địa phương cấp sai thẩm quyền, nghĩa là đáng lẽ trước khi cấp phép, địa phương cần phải xin ý kiến bộ chuyên ngành như Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường... và báo cáo Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Nhưng địa phương cứ làm theo nguyên tắc dự án nào dưới 1.500 tỉ đồng là tự quyết định mà không hỏi ý kiến Trung ương…

Điểm sáng 2011: Xuất khẩu đạt kỷ lục

Trong khi sức tiêu thụ trong nước giảm sút, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ và thị trường nhiều nước ASEAN như Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia...

Việc xuất khẩu đạt mức cao không chỉ thu hẹp khoảng cách nhập siêu đối với sản phẩm thép, mà còn tạo đầu ra cho sản xuất thép khi tiêu thụ nội địa giảm mạnh.

Trong 11 tháng đầu năm 2011, cả nước đã xuất khẩu 1,727 triệu tấn thép các loại, đạt kim ngạch 1,639 tỷ USD. Dự kiến, cả năm 2011, Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn thép, đạt kim ngạch 1,8 tỷ USD - cao nhất của ngành thép từ trước đến nay.

Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam Phạm Chí Cường cho biết, cả năm 2010 ngành thép xuất khẩu được 1,3 triệu tấn thép, trị giá gần 1,3 tỷ USD, thì chỉ trong 11 tháng của năm 2011, cả nước đã xuất khẩu 1,727 triệu tấn thép các loại, thu về 1,639 tỷ USD.

Dự kiến, cả năm 2011, Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn thép, đạt giá trị kim ngạch 1,8 tỷ USD - kỷ lục cao nhất của ngành thép từ trước đến nay. Năm nay cũng là năm đầu tiên thép lọt vào top các mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD. 

Triển vọng năm 2012

Trong năm 2011, chính sách thắt chặt tín dụng đã ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu sử dụng thép. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trong năm 2011 ước tính đạt 12%, tương ứng 75% so với kế hoạch đầu năm là 15 - 17%. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2012 tiếp tục được đặt ra ở mức 15 - 17%, nhưng ưu tiên hàng đầu của Chính phủ vẫn là kiềm chế lạm phát. Ngành thép cũng như hoạt động xây dựng sẽ tiếp tục chịu tác động từ những chính sách thắt chặt này trong năm 2012.

Trong ngắn hạn, giá thép trong nước sẽ không giảm đáng kể ngay khi giá nguyên vật liệu đang giảm, vì những công ty sản xuất thép vẫn đang gánh chịu lượng hàng tồn kho giá cao và chi phí vốn chưa giảm. Nếu xu hướng giảm của giá nguyên vật liệu tiếp tục trong năm 2012, các nhà sản xuất sẽ có thể giảm giá bán khi lượng hàng tồn kho giá cao đã được giải phóng bớt. Như vậy, giá thép trong nước sẽ dao động trong khoảng 14,5 - 17 triệu đồng/tấn.

Trong dài hạn, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng tiếp tục là yếu tố thúc đẩy nhu cầu sử dụng thép. Tốc độ đô thị hoá trung bình hàng năm của Việt Nam trong 10 năm qua vào khoảng 3,4%; tỷ lệ ước tính trong 10 năm tới vào khoảng 3%. Theo kế hoạch, tỷ lệ đô thị hoá có thể đạt 50% vào năm 2025.

Như vậy, triển vọng dài hạn cho ngành thép trong nước vẫn khá lạc quan, mặc dù những thách thức về nhu cầu thấp và chi phí sản xuất cao mà các công ty thép nội địa phải đối mặt có thể tiếp tục trong năm 2012.

Trên thị trường thế giới, giá thép năm 2012 khó có khả năng tăng mạnh với nhu cầu yếu từ các nền kinh tế chủ chốt. Trong trường hợp xấu nhất, giá thép bình quân trong năm 2012 có thể sẽ sụt giảm, nếu như vấn đề nợ công của châu Âu chưa được giải quyết và bong bóng bất động sản của Trung Quốc “vỡ”. Theo giả định cơ sở, ước tính giá thép thế giới năm 2012 sẽ dao động trong khoảng từ giảm 15% đến tăng trưởng 5%.

Giải pháp phát triển bền vững ngành thép

Theo các chuyên gia kinh tế, trước những khó khăn và thách thức hiện nay, ngành thép sẽ phải cơ cấu lại. Những doanh nghiệp thép không còn đủ sức cạnh tranh vì công nghệ và thiết bị lạc hậu, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng lớn, giá thành cao sẽ buộc phải dừng sản xuất hoặc bán lại cơ sở sản xuất cho các nhà đầu tư có tiềm năng để đầu tư đổi mới công nghệ, bảo đảm sản xuất có hiệu quả. Mạnh dạn thực hiện việc mua lại, sáp nhập một số doanh nghiệp sản xuất không hiệu quả. Đẩy mạnh việc hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau.

Các công ty thép khác cũng phải áp dụng nhiều biện pháp cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức sản xuất để phát huy hết năng lực của công ty, bảo đảm công ty phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập sâu với thế giới và khu vực. Các doanh nghiệp thép cần cắt giảm chi phí không hợp lý, quản trị doanh nghiệp công khai, minh bạch, hiệu quả hơn. Đến năm 2017, mọi chính sách bảo hộ sẽ không còn cho sản xuất thép, cạnh tranh sẽ rất khốc liệt, nếu các công ty thép không nỗ lực đổi mới, chắc chắn sẽ khó tồn tại và phát triển một cách có hiệu quả.

Hiệp hội thép phát huy vai trò của mình trong việc khuyến cáo người sản xuất và tiêu dùng thép, sử dụng thép có chất lượng (thép cuộn xây dựng nước ngoài có loại không tốt bằng thép Việt Nam, đừng ham rẻ mà ảnh hưởng đến chất lượng công trình).

Các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm quy hoạch thép đã được phê duyệt. Tăng đầu tư vào phát triển các nhà máy thượng nguồn, luyện thép, sản xuất phôi thép, các mặt hàng thép tấm, lá, băng. Trong đó, cần chấn chỉnh việc cấp phép đầu tư các dự án thép ở các địa phương. Kiên quyết thu hồi giấy phép các dự án không có trong quy hoạch và không thực hiện các thủ tục quy định đầu tư mà Chính phủ đã ban hành. Đối với các dự án sản xuất thép xây dựng, ống thép, thép cán nguội, thép mạ kim loại và tôn phủ màu đã dư thừa công suất gần gấp đôi so với nhu cầu hiện tại, cần kiên quyết không cấp thêm giấy phép đầu tư ít nhất cho 5 năm tới.

Bên cạnh đó, yêu cầu các địa phương, doanh nghiệp tôn trọng các quy định mà Bộ Công Thương đã ban hành về quy mô công suất đầu tư và các điều kiện để dự án thép phát triển bền vững trong công văn số 8438/BCT-CNNg ngày 20/8/2010. Ưu tiên các dự án đầu tư các nhà máy thép sản xuất các sản phẩm thép Việt Nam còn phải nhập khẩu với số lượng lớn như thép tấm, thép cuộn cán nóng, thép chất lượng, thép chế tạo… để góp phần giảm bớt nhập siêu. Đồng thời, các cơ quan chức năng và địa phương cần có biện pháp giám sát thúc đẩy các dự án đầu tư FDI, có biểu hiện kéo dài thời gian xây dựng mà không có lý do chính đáng, đặc biệt lưu ý tới các dự án đầu tư mà khả năng thu xếp tài chính chưa rõ ràng, tránh tình trạng chiếm đất tìm cơ hội chuyển nhượng dự án để kiếm lời.

VSA cũng kiến nghị cần có biện pháp khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm thép ở trong nước đang dư thừa. Những biện pháp này có thể là giảm thuế VAT cho sản phẩm thép xuất khẩu, ưu đãi thuế xuất khẩu, hỗ trợ cho doanh nghiệp thép để có nhiều cơ hội tiếp cận với thị trường xuất khẩu thép thế giới (bằng các chương trình xúc tiến thương mại). Theo VSA, việc đẩy mạnh xuất khẩu thép sẽ giúp cho ngành thép giải quyết lượng thép dư thừa, doanh nghiệp có thêm nguồn ngoại tệ để nhập nguyên liệu và sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được và giảm nhập siêu của Nhà nước. Với dự báo tiêu thụ thép năm 2012 trên thế giới sẽ tăng, hiện VSA đang phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp tích cực mở rộng thị trường nhằm đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thép mà trong nước đang dư thừa. Để tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu, Hiệp hội Thép Việt Nam đề nghị các doanh nghiệp thành viên và các thương vụ ở nước ngoài thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin về nhu cầu mặt hàng này ở nước sở tại; đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại để có thể đẩy mạnh xuất khẩu thép tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Tuy nhiên, có thể khẳng định khủng hoảng chính là bài học, là cơ hội để chọn lọc, buộc ngành thép phải cơ cấu lại. Doanh nghiệp nào đi đúng hướng, có tiềm lực sẽ tồn tại và tiếp tục phát triển, còn những doanh nghiệp đầu tư không đúng hướng sẽ bị đào thải. Đó là quy luật!

M.Anh

Cập nhật: Thứ ba, 3-1-2012

Bộ NN&PTNT xác định thủy sản vẫn là lĩnh vực mũi nhọn cần tập trung đầu tư và có thể tạo bước đột phá trong giai đoạn 2011 – 2015. Nhiều dự báo lạc quan rằng, tổng nhu cầu nguyên liệu cho chế biến thủy sản thời gian tới sẽ tiếp tục tăng cao, nhiều thị trường mới đang mở ra cơ hội cho ngành thủy sản nước nhà.

THÀNH CÔNG TRONG NĂM 2011

Những tháng cuối năm 2011, ngành thủy sản cũng đã có được những thành công lớn trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết, xuất khẩu thuỷ sản tháng 11 đạt 650 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 11 tháng qua đạt 5,6 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý là xuất khẩu thủy sản sang hầu hết các thị trường lớn trong 11 tháng qua tăng khá về giá trị, điển hình như Hoa Kỳ tăng 23,5%, Hàn Quốc 32%, Trung Quốc 49% và Italy tăng 41% so với cùng kỳ năm 2010.

Giá xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua cũng luôn ổn định ở mức cao. Cụ thể, giá tôm xuất khẩu trung bình trong thời gian qua tăng trưởng đáng kể, khoảng 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái với mức hơn 9,53 USD/kg.

Đối với chế biến cá tra xuất khẩu, sau khi đấu tranh thành công việc đưa được cá tra ra khỏi danh sách đỏ, nhu cầu cá tra nguyên liệu đã tăng trở lại nên giá cá tra ở nhiều địa phương đã liên tục tăng cao và không đáp ứng đủ nhu cầu của các nhà máy chế biến.

Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tính đến cuối tháng 10, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 1,48 tỷ USD, tăng 29,2% so cùng kỳ 2010, dự kiến cả năm sẽ đạt 1,6 tỷ USD.

Không chỉ tăng tưởng khá ở những thị trường truyền thống, ngành thủy sản đang tiếp tục mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường mới, như chủ động xuất bán sang Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) 2.000 tấn thủy sản. Ngoài sản phẩm tôm, cá phi lê đông lạnh cũng phát huy được thế đứng của mình tại thị trường này. Cơ hội hợp tác thương mại giữa Việt Nam và UEA được đánh giá rất lớn. Nigieria – một thị trường mới đầy tiềm năng của ngành thủy sản cũng có nhiều tín hiệu vui. Theo tính toán của Bộ Công Thương, nhu cầu tiêu thụ cá của nước này vào khoảng 1,4 triệu tấn/năm trong khi sản lượng và nuôi trồng của họ chỉ đáp ứng được 50%, trung bình mỗi năm cần nhập khoảng 750.000 tấn. Hiện đã có nhiều đơn đặt hàng từ thị trường này.

VẪN PHẢI ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU KHÓ KHĂN

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám, khó khăn lớn nhất là phòng chống và xử lý dịch bệnh. Hiện nay nói đến thủy sản thì phòng chống dịch bệnh nổi lên nhiều vấn đề như quy hoạch thủy lợi chưa được đầu tư thỏa đáng, dùng thủy lợi cho quy hoạch lúa sử dụng cho tôm là không hợp lý...

Thứ hai là bị chèn ép về giá do chưa tiếp cận được với người tiêu dùng. Do công tác truyền thông của ta ở các thị trường nhập khẩu còn yếu nên chúng ta chưa tiếp cận trực tiếp được với người tiêu dùng, họ có rất ít thông tin về sản phẩm thủy sản của chúng ta. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu thô và xuất khẩu đến các nhà nhập khẩu, do vậy, giá xuất khẩu rất khó cải thiện và sản phẩm dường như vẫn không có thương hiệu, mặc dù thủy sản Việt Nam xuất khẩu đứng top 5 của thế giới.

Thứ ba là trình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng. Nguyên nhân là do các nhà máy chế biến xuất khẩu hiện nay phát triển ồ ạt, công suất vượt quá sản lượng sản xuất, chưa có sự gắn kết giữa nhà máy với sản xuất nguyên liệu ngay từ đầu, có nhà máy xây dựng xong mới tìm nguồn nguyên liệu…Theo báo cáo của ngành thủy sản, từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp chế biến chỉ hoạt động từ 50-60% công suất. Chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp đủ khả năng bảo đảm nguồn nguyên liệu hoạt động là nhờ chế biến các sản phẩm tinh, tạo ra giá trị gia tăng cao.

Thứ tư là áp lực do giá thức ăn chăn nuôi thủy sản liên tục tăng cao mà chất lượng lại không đảm bảo. Thị trường thức ăn thủy sản năm nay trung bình cứ hai tháng giá bán được điều chỉnh một lần (tăng 35% từ đầu năm). Mặc dù, trong quý III vừa qua, giá nhiều loại nguyên liệu đã giảm mạnh ( Đậu tương giảm 34 USD so với quý II, lúa mì giảm 500 đồng/kg, cám gạo giảm 700 đồng/kg, bắp giảm 1.050 đồng/kg, bột cá giảm 1.000 đồng/kg…) ; thuế nhập khẩu bột cá, bột thịt, dầu cá…giảm từ 5 - 10% xuống còn 0% và thuế GTGT cho nguyên liệu sản xuất thức ăn giảm còn 5%. Nhà sản xuất thức ăn chỉ lo o bế đại lý bằng mức chiết khấu cao ngất ngưởng đến 3.200 đồng/kg, có những doanh nghiệp Trung Quốc sẵn sàng chiết khấu đến 5.500 - 6.000 đồng/kg. 
Một số sản phẩm như thức ăn hỗn hợp dạng viên cho thủy sản được Chính phủ đưa vào diện bình ổn giá (mỗi lần tăng không quá 4%), nhưng do trong tổng số 130 nhà máy chỉ có 10 nhà máy nằm trong diện bình ổn giá, nên chuyện tự ý tăng cao hơn so với mức quy định không hiếm.  

Nguyên nhân chính là do thức ăn thủy sản Việt Nam đang nằm trong sự “thống trị” của các doanh nghiệp nước ngoài, khi các doanh nghiệp này nắm giữ tới 80% thị phần. Thức ăn cho tôm là sự “độc bá” gần như 100% của Uni-President, Grobest (Đài Loan), CP (Thái Lan), Tomboy (Pháp)… Với thức ăn cho cá tra, Cargill (Mỹ), Green Feed, Proconco (liên doanh với Pháp), Anova… cũng chiếm tới trên 60-70%.

Chịu giá cao nhưng người nuôi trồng thủy sản hiện nay mua phải các loại thức ăn chất lượng kém, khiến tôm, cá chậm lớn, mật độ hao hụt quá lớn là chuyện phổ biến. Tổng cục Thủy sản đã phải lấy mẫu thức ăn thủy sản tại vùng nuôi ở ĐBSCL và miền Đông. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy thức ăn kém chất lượng chiếm đến 20% số mẫu kiểm tra.

Thức ăn chiếm đến 80% giá thành nuôi trồng thủy sản đã khiến người nuôi bất mãn bỏ nghề. Thực tế cho thấy, mặc dù giá cá tra, tôm nguyên liệu tăng lên nhưng càng ngày người nông dân càng không mặn mà với việc nuôi trồng hai loại thủy sản đang được ưa chuộng này. Nhiều diện tích nuôi tôm, cá tra tại ĐBSCL liên tục giảm. Nguyên nhân là do các chi phí đầu vào, đặc biệt là giá thức ăn, giá cá giống tăng mạnh khiến chi phí đầu tư nhảy vọt.

CÁC KIẾN NGHỊ

Để giải quyết vấn đề thiếu hụt nguyên liệu, các chuyên gia thủy sản kiến nghị nhà nước cho phép nhập khẩu thủy sản nguyên liệu với thuế suất ưu đãi để giữ vững thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, việc nhập khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực tài chính để thu mua nguồn nguyên liệu dự trữ và đầu tư kho lạnh bảo quản sản phẩm. Song song với đó là phải ổn định vùng nguyên liệu chế biến. Đây là hướng phát triển bền vững. Cần tăng cường liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp, các hộ nuôi phải có hợp đồng tiêu thụ nguyên liệu với nhà máy chế biến trước khi sản xuất, nhà máy phải mạnh dạn đầu tư phát triển vùng nguyên liệu để chủ động cho sản xuất
thông qua hình thức tự nuôi hay liên kết với người nuôi, để từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu.

Các đơn vị của ngành cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra dư lượng thuốc kháng sinh trong thủy sản để nâng cao chất lượng sản phẩm; triển khai các chương trình bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản theo mô hình khép kín theo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ…

Đối với tình trạng giá thức ăn thủy sản liên tục tăng cao và luôn chịu chi phối từ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn nước ngoài, thì vấn đề đặt ra là bình ổn giá thức ăn trên thị trường. Ông Phạm Anh Tuấn - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản đề nghị cần đưa tất cả các nhà máy sản xuất thức ăn vào diện bình ổn giá. Nhà nước cần coi đây là mặt hàng thiết yếu an ninh thực phẩm để được hưởng quyền lợi ưu tiên như lương thực và phân bón.

Ở một khía cạnh khác, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, Việt Nam nên đầu tư vùng nguyên liệu trong nước để giảm thiểu việc phụ thuộc vào thế giới trong lĩnh vực nhập nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi. Các nhà nuôi trồng thủy sản cũng kiến nghị Nhà nước khống chế chuyện chiết khấu, không nên để mức chiết khấu hiện nay doanh nghiệp áp dụng với đại lý đến 20% là quá cao, mà người phải gánh mức giá này là người nuôi trồng. Bộ NN&PTNT cần nghiên cứu đưa ra mức giá trần cho thức ăn chăn nuôi trên thị trường, song song với việc hình thành các doanh nghiệp  trong nước đủ mạnh để đối trọng được với các doanh nghiệp ngoại.

Với các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, theo ông Trương Đình Hòe -Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, cần phải tổ chức lại sản xuất, tăng cường sự đoàn kết, hỗ trợ để tạo thành sức mạnh bước vào sân chơi lớn. Phải tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, dự báo thị trường, tổ chức các hoạt động quảng bá sản phẩm thủy sản của Việt Nam tại nước ngoài và tăng cường hơn nữa mối liên kết trong nuôi trồng thủy sản.

Theo dự báo, với xu hướng nhu cầu thuỷ sản thế giới vẫn tiếp tục tăng mạnh, cùng với tình hình sụt giảm nguồn cung cấp thuỷ sản khai thác và nuôi trồng ở một số nước, thời gian tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có nhiều cơ hội. Các chuyên gia trong ngành cho rằng, đây chính là cơ hội để ngành thủy sản lột xác, thay đổi cách làm cũ manh mún, lạc hậu tiến tới sản xuất công nghiệp hiện đại, quy mô lớn.

M.H

Cập nhật: Thứ ba, 3-1-2012

Năm 2011 khủng hoảng nợ công ở quy mô toàn cầu đã để lại những hệ quả sâu rộng cho nền kinh tế thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này. Theo đánh giá chung của nhiều chuyên gia kinh tế thì Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn và thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản đã ổn định và duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, về cơ bản đã thoái khỏi tình trạng kém phát triển và  trở thành nước thuộc nhóm các nước có thu nhập bình quân đầu người trung bình trên thế giới.

NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NĂM 2011

Theo TS. Trần Hoàng Ngân, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, năm 2011 là sự đan xen giữa sáng và tối. Năm 2011, nền kinh tế của chúng ta đạt được các thành công như GDP ước tăng khoảng 6%, tuy thấp so với kế hoạch đưa ra là 7-7,5% nhưng cần đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay đang suy giảm từ 5,1% xuống 4% và các nước trong khu vực ASEAN trước đây tăng trưởng 6,9% nay chỉ còn 5,3%.

Xuất khẩu của cả nước năm nay đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, tăng khoảng 32% so với năm 2010 và tăng gấp 3 lần so với chỉ tiêu QH giao (10%).

Tình hình nhập khẩu được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nhập siêu chiếm 10,22%/tổng kim ngạch xuất khẩu. Như vậy, năm 2011 là năm thắng lợi đối với công tác xuất khẩu của nước ta.

Năm 2011, cũng là năm lần đầu tiên chúng ta đã kéo giảm được bội chi xuống dưới 5% GDP.

NHỮNG MẶT CÒN TỒN TẠI

+ Vẫn còn bội chi ngân sách

Mặc dù lần đầu tiên chúng ta kéo giảm được bội chi xuống mức dưới 5% GDP, nhưng bội chi ngân sách đã kéo dài liên tục trong nhiều năm qua chưa có xu hướng cân bằng. Năm 2011 đã chi vượt dự toán là 9,7%, tương đương khoảng 70.400 tỷ đồng.

Để bù đắp bội chi ngân sách, Chính phủ phải phát hành trái phiếu để huy động vốn và trở thành đối thủ cạnh tranh của chính các doanh nghiệp Việt Nam, người nộp tiền cho ngân sách nhà nước, từ đó đẩy lãi suất tăng cao. Doanh nghiệp đã khó khăn lại càng thêm khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động và thất nghiệp gia tăng.

+ Tình trạng cát cứ địa phương, bất cập trong đầu tư công

TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết, nền kinh tế với GDP 100 tỉ USD của Việt Nam có 100 cảng biển, trong đó có 20 cảng quốc tế; hơn 100 tổ chức tín dụng, hàng trăm công ty tài chính và chứng khoán; 22 sân bay, trong đó có 8 sân bay quốc tế (trong khi Nhật có 4 sân bay quốc tế). Nghĩa là, mỗi cảng chỉ phục vụ sản xuất trung bình 1 tỉ USD/năm cho nền kinh tế. Tương tự, bình quân mỗi ngân hàng chỉ phục vụ sản xuất ra 1 tỉ USD/năm cho nền kinh tế.

Ngoài ra còn có 18 khu kinh tế ven biển; 27 khu kinh tế cửa khẩu; 260 khu công nghiệp, 650 cụm công nghiệp. Chỉ tính trong 10 năm (2001-2010), Việt Nam có thêm 233 trường đại học và cao đẳng, tức mỗi tháng có thêm 2 trường. Tính trung bình, nền kinh tế có thêm 1 khu đô thị mới trong 1 tháng.

TS. Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam, từng nói: “Mỗi địa phương như một vương quốc độc lập. Tỉnh nào cũng có sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, sân golf, khu đô thị như một đại công trường dang dở”. Ngay giữa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu kinh tế ven biển của Việt Nam cũng diễn ra sự cạnh tranh rất gay gắt nhằm thu hút đầu tư.

Chính sự bất cập trong lĩnh vực đầu tư công đã gây lãng phí về nguồn lực quốc gia.

TS. Trần Hoàng Ngân còn cho biết thêm về ba thách thức của kinh tế Việt Nam năm 2012 đó là :

+ Lạm phát

 Lạm phát tại Việt Nam đã tăng cao và kéo dài trong suốt 5 năm qua, kể từ năm 2007 đến nay và bình quân mỗi năm là 13%, gấp 3 lần so với các nước trong khu vực. Lạm phát của Việt Nam có nhiều nguyên nhân, trong đó có chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, và yếu tố quan trọng hơn nữa là vấn đề quản lý giá.
Việt Nam có những thế mạnh về nông nghiệp, về lương thực, thực phẩm nhưng giá cả về mặt lương thực, thực phẩm tăng cao hơn các nước trong khu vực. Chúng ta có thể thấy một điều bất hợp lý là không phải thiếu nguồn cung giá sốt, cung tăng dồi dào nhưng giá vẫn sốt

+ Lãi suất cho vay cao

Yếu tố này khiến việc vực dậy nền kinh tế nội tại cũng như sản xuất kinh doanh trong nước càng khó khăn hơn. Nếu không giảm nhanh được mức lãi suất cho vay  mà để tiếp tục ở mức cao như hiện nay, sẽ “giết chết” doanh nghiệp của chúng ta ngay trên sân nhà. Theo số liệu công bố số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động, phải đắp chiếu... trong năm nay có xu hướng tăng lên. Đến tháng 9 năm nay, có gần 49.000 doanh nghiệp đã dừng hoạt động, dừng nộp thuế, hoặc đã giải thể, phá sản, đóng cửa, trong đó, phá sản, giải thể là 5.800 doanh nghiệp. So với năm ngoái, số doanh nghiệp khó khăn, phải đắp chiếu này đã tăng lên 11.000 doanh nghiệp.

Cũng trong số đó, có những doanh nghiệp thực tế đã hội tụ đủ điều kiện phải phá sản giải thể nhưng chưa làm thủ tục mà chúng ta chưa thể thống kê ngay được.

Bình quân trước đây, mỗi năm có khoảng 5000-7000 doanh nghiệp phá sản, giải thể. Năm nay, ước khả năng con số này sẽ gấp rưỡi đến gấp đôi so với năm ngoái (theo nhận định của ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam)

+ Độ mở của nền kinh tế lên đến 166%

Với độ mở như vậy, Việt Nam rất nhạy cảm với “thời tiết” kinh tế của thế giới. Các nước ASEAN, sau cuộc khủng hoảng vừa qua, họ đã kéo độ mở xuống như Thái Lan dưới 100% GDP, Indonesia là 36,7% và Phillipines là 53,6%.

Các nước này đều là các nước xuất siêu, trong khi Việt nam lại là nước nhập siêu và nhập siêu liên tục trong nhiều năm với mức nhập siêu rất cao. Trong 5 năm 2001 - 2005 nhập siêu chỉ có 19 tỷ USD, nhưng trong 5 năm 2006 - 2010  ta nhập siêu 63 tỷ  USD. Kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, chúng ta tiếp tục nhập siêu 68 tỷ USD.

HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ

Dấu ấn đậm nét nhất trong năm nay là việc ban hành Nghị quyết 11 ngày 24/2/2011 của Chính phủ. Nội dung NQ bao gồm những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đánh giá Nghị quyết 11 của Chính phủ Việt Nam là một gói chính sách toàn diện, đã tạo ra được những kết quả bước đầu trong việc góp phần ổn định tỷ giá ngoại hối, cho phép nâng cao mức dự trữ ngoại tệ và giảm tốc độ tăng lạm phát.

Còn theo đánh giá của  PGS.TS Trần Hoàng thì NQ 11 đã hạn chế tác nhân gây lạm phát. Theo đó, thị trường ngoại tệ và vàng đã cắt được “cơn sốt”  so với trước đó, nhất là “cơn sốt” USD. Đến nay, giá USD trên thị trường chính thức và thị trường tự do đã ổn định và sát gần nhau. Tỷ giá ổn định tương đối sẽ hạn chế bớt tác nhân gây lạm phát.

Đây là yếu tố rất quan trọng bởi nếu chúng ta không ổn định được tỷ giá trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới tăng lên, dẫn đến chi phí đầu vào tăng thì nền kinh tế nước ta có nguy cơ bùng nổ lạm phát giống như thời kỳ năm 2008 do vừa kết hợp của lạm phát thế giới cộng với tỷ giá (một hình thức lạm phát kép).

Nghị quyết 11 không chỉ kiểm soát tốt tỷ giá mà còn ổn định được thị trường vàng. Khi giá vàng trong nước và giá vàng thế giới liên thông với nhau sẽ hạn chế được tình trạng đầu cơ buôn lậu vàng.

Mũi nhọn thứ 2 trong Nghị quyết 11 là chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách.

Với việc mạnh tay cắt giảm đầu tư công nên đã cắt giảm hoặc tiết kiệm được hàng trăm ngàn tỷ đồng sẽ góp phần giảm tổng cầu, giảm nhập siêu và góp phần kiềm chế lạm phát.

Mặt khác, chính phủ cũng đã có những nhìn nhận kịp thời để đề ra mục tiêu là không chạy theo tăng trưởng cao, mà chỉ phấn đấu ở mức tăng trưởng vừa phải, còn lại tiếp tục tập trung sức cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Chính phủ cũng đã thẳng thắn nhìn nhận rằng bất ổn kinh tế vĩ  mô, vì ba nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân thuộc về khách quan, hai nguyên nhân còn lại  đến từ những yếu kém của nội tại nền kinh tế và nguyên nhân do điều hành.

Cũng từ ba nguyên nhân đó, Chính phủ cũng đã xác định được ba mũi nhọn trong tái cấu trúc nền kinh tế:

Thứ nhất, tái cấu trúc đầu tư, trước hết là đầu tư công;

Thứ hai, tái cấu trúc doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước;

Thứ ba, tái cấu trúc hệ thống tài chính - ngân hàng.

Cả ba nhóm giải pháp này đều nhằm vào cùng một hướng là đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế hợp lý nhất có thể, để đạt năng suất, hiệu quả kinh lớn nhất và năng lực cạnh tranh quốc gia cao nhất.

T.H

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông Tin Truyền Thông số :13-GP - TTĐT cấp ngày 18/1/2010.
Người chịu trách nhiệm chính : Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
Địa chỉ: 37B Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội. 
Điện thoại: (04) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (04) 39762593 
Email :ttgcvattu@yahoo.com
Toàn c?nh thuong m?i di?n t? Vi?t Nam| Thi truong viet nam | Xe va the thao | Unlock DTDD | K?t qu? x? s? |