Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Vinamilk tăng 5 - 7% giá sữa từ 23/1
Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Sau 1 năm thực hiện chương trình bình ổn giá ở hầu hết các mặt hàng, chiều ngày 17/1, Công ty Vinamilk thông báo sẽ điều chỉnh giá bán 1 số loại sản phẩm, với mức tăng từ 5% đến 7% so với trước đó.

Theo đại diện Vinamilk, nguyên nhân của đợt điều chỉnh giá lần này là do giá nguyên liệu sữa hiện đã tăng hơn 20%; các nguyên vật liệu đầu vào khác tăng từ 40% đến 60%; chi phí đầu vào cho sản xuất như điện, nước, phí vận chuyển, xăng dầu… hiện cũng đã tăng từ 10% đến 15% so với cùng kỳ. 

Do vậy Vinamilk phải điều chỉnh giá bán từ ngày 23/1 tới đối với 1 số mặt hàng để bù đắp vào 1 phần chi phí sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong năm 2012.

(Dvt.vn)

Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Năm vừa qua, thị trường ôtô Việt Nam đã liên tiếp phải đối mặt với những khó khăn. Dù vậy, sản lượng bán hàng các loại ôtô lắp ráp trong nước 2011 vẫn kịp bám sát mức sản lượng của năm trước đó.

Báo cáo từ Hiệp hội các Nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cho biết, trong năm 2011 đã có tổng cộng 110.938 xe được bán ra bởi các doanh nghiệp thành viên, chỉ thấp hơn đúng 1% so với năm 2010.

Tạo ấn tượng mạnh nhất là phân khúc xe du lịch 5 chỗ ngồi với mức tăng trưởng 22,1%, đạt 40.858 chiếc. Trong khi đó, các loại xe 2 cầu và xe đa dụng bị sụt giảm 6%, đạt 22.956 chiếc.

Nếu chỉ xét hai phân khúc này, có thể thấy rõ các mức sản lượng bán hàng nêu trên là một sự cố gắng đáng kể bởi trong năm qua, đây là nhóm sản phẩm chịu sức ép mạnh nhất từ các chính sách thuế, tỷ giá ngoại tệ và chính sách hạn chế tiêu dùng ôtô qua đó góp phần giảm ùn tắc giao thông.

Tháng 12, nhóm sản phẩm này tiếp tục phải nhận một “cú sốc” nữa với quyết định tăng lệ phí trước bạ lên mức 20% tại Hà Nội và 15% tại Tp.HCM. Tuy nhiên, việc các mức lệ phí này chính thức có hiệu lực kể từ 1/1/2012 nên vô hình trung, 20 ngày cuối tháng 12 (khoảng thời gian từ khi có quyết định đến khi áp dụng) đã trở thành một cú hích cho toàn thị trường năm 2011 khi người dân đua nhau mua xe “chạy” lệ phí.

Nhờ đó, sản lượng bán hàng các loại xe du lịch 5 chỗ ngồi, xe 2 cầu và đa dụng tháng cuối cùng của năm 2011 đã tăng lần lượt 17% và 38% so với tháng liền trước.

Còn ở phân khúc xe thương mại, trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, dễ hiểu vì sao tình hình bán hàng của nhóm sản phẩm này rơi vào cảnh ảm đạm nhất khi bị sụt giảm đến 15%, đạt 46.206 chiếc.

Năm 2011 cũng đã chứng kiến một sự đổi ngôi đáng chú ý giữa hai hãng xe Toyota và Trường Hải. Đây là năm đầu tiên Trường Hải vượt qua được Toyota để chiếm vị trí quán quân về tổng sản lượng bán hàng cộng dồn cả năm. Tính đến hết tháng 12, Trường Hải bán ra được 31.801 xe, tăng 22% so với 2010. Trong khi đó, Toyota chỉ đạt được 29.792 xe, giảm 4% so với 2010.

Trong số các hãng xe lớn thì Ford cũng là cái tên đáng nể trong năm vừa qua khi sở hữu mức tăng trưởng đến 34%, từ 6.475 xe bán ra năm 2010 lên 8.697 xe bán ra năm 2011.

(VnEconomy)

Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Năm 2012, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tiếp tục vay nguồn ODA mới được ký kết trên 2 tỷ USD và khoảng 1 tỷ USD vốn vay thương mại nước ngoài.

Trong năm 2012, EVN cũng sẽ khởi công 4 dự án nguồn điện với tổng công suất 2.390 MW, gồm nhiệt điện Duyên Hải 3, nhiệt điện Ô Môn 1 (tổ máy 2), nhiệt điện Thái Bình và thủy điện Trung Sơn. Ngoài ra, tập đoàn còn khởi công 60 công trình lưới điện 500-220 kV và hoàn thành thêm 231 công trình lưới điện 110 - 500 kV.

Dự kiến năm 2012, tổng sản lượng điện cung ứng của EVN khoảng 105 tỷ kWh, tăng 11,9% so với năm 2011.

Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mặt hàng hồ tiêu xuất khẩu khoảng 86.000 tấn với khoảng 619 triệu USD, giảm 30% về lượng và giảm 16% về giá. 

Dự kiến, mặt hàng cà phê xuất khẩu năm nay trên 1 triệu tấn, thu về hơn 2 tỷ USD. Con số này của năm 2011 là 1,2 triệu tấn và 2,7 tỷ USD.

Theo dự báo của Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO), sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2011 - 2012 đạt khoảng 18,5 triệu bao (tương đương 1,11 triệu tấn), giảm 5% so với sản lượng của niên vụ trước. Do giá cà phê thế giới sụt giảm nên giá cà phê trong nước cũng giảm xuống còn 38,2 triệu đồng/tấn vào đầu tháng 1. 

Theo nhận định, sụt giảm kim ngạch nhiều nhất là mặt hàng cao su, có thể giảm trên 1 tỷ USD (năm 2011 kim ngạch xuất khẩu cao su là 3,3 tỷ USD). Dù lượng xuất khẩu mặt hàng này tăng lên hơn 880.000 tấn nhưng chỉ thu về khoảng 2,1 tỷ USD. Đầu năm 2012, giá cao su tự nhiên chỉ ở mức thấp nếu tình hình kinh tế châu Âu và thế giới không được cải thiện. 

(SGGP)

Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Tổng Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam vừa cho biết, không thể lấy tới 3.000 mẫu xăng dầu để kiểm tra chất lượng trong một đợt cũng như chưa thể hoàn thành cuộc tổng kiểm tra trước Tết.

Thông tin này vừa được ông Trần Văn Vinh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, Bộ Khoa học và công nghệ khẳng định.

Trước đó, nhiều tờ báo đã đưa tin, chánh thanh tra Bộ Khoa học và công nghệ, ông Trần Minh Dũng trao đổi với báo chí ngày 10/1 cho biết sẽ cho lấy 3.000 mẫu xăng dầu trên cả nước để có đánh giá tổng thể về chất lượng xăng dầu. Bộ sẽ cung cấp thông tin chính xác cho người dân xem nguyên nhân cháy nổ ô tô, xe máy vừa qua có phải do xăng hay không trước Tết Nguyên đán 2012.

Theo phân công của Bộ Khoa học công nghệ, chủ trì cuộc tổng kiểm tra này là Tổng Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam.

"Trong một đợt này thì không thể kiểm tra thử nghiệm tới con số 3.000 mẫu được. Trung bình, để kiểm tra đầy đủ các chỉ số thành phần 1 mẫu xăng thì phải mất tới 2 ngày", ông Vinh nói.

Hiện, các chi cục mới đang triển khai nên chưa có báo cáo kết quả nào về Tổng Cuc tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam. Do đó, phải chờ ra Tết, sau khi nhận được báo cáo từ các đơn vị địa phương thì Tổng Cục mới có cơ sở để thông báo về kết luận kiểm tra chất lượng xăng dầu trên toàn quốc.

Về thông tin kết quả nghiên cứu của Đại học Bách khoa Tp HCM, cho rằng, xăng pha methanol ở nhiệt độ 500 độ C không cháy, ông Trần Văn Vinh từ chối việc bình luận.

Báo cáo của Bộ KH&CN năm 2011 cho hay, chỉ có 704 mẫu xăng lưu thông đã được kiểm tra xác xuất trên thị trường. Trong đó, bộ đã phát hiện 147 mẫu không đạt chất lượng về chỉ số octan chiếm 20,9% và 5 mẫu có methanol chiếm 0,7%. Riêng về vi phạm vượt chuẩn hàm lượng methanol, tại miền Nam bị phát hiện 3 mẫu, Đà Lạt 1 mẫu, Hà Nội 1 mẫu.

Liên quan các vụ cháy nổ ô tô, xe máy, thông tin từ Thanh tra bộ này cho biết, một số mẫu xăng lấy ở các xe bị cháy không phát hiện tạp chất lạ nào.

(VEF)

Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Gần đây, Hiệp hội Gas Việt Nam cũng cảnh báo các DN kinh doanh gas trong nước rằng đã phát hiện một số công ty nhập khẩu từ Trung Quốc một loại gas mà “không phải là gas”, đó là chất dimethyl ether (DME).

Có DN nhập khẩu cả tàu với số lượng hàng trăm tấn loại gas này. Loại chất này thường dùng để làm dung môi trong bình xịt sơn, xịt muỗi… có mức giá rẻ hơn khí hóa lỏng (gas) khoảng 100 USD/tấn. Gần đây, chất này được nhập khẩu để trộn vào gas theo tỉ lệ 10% hoặc 20% nhằm làm tăng trọng lượng tương ứng. Với cách pha trộn này, giới kinh doanh sẽ hưởng thêm khoảng 30.000 - 60.000 đồng/bình 12 kg.

Theo giới chuyên môn, chất DME còn được nhiều trạm sang chiết gas làm ăn gian dối mua trữ để bơm cho khách hàng với giá chỉ khoảng 250.000 đồng/bình 12 kg. DME khi được bơm vào bình gas sẽ rất nguy hiểm cho người sử dụng do tính chất ăn mòn, lâu ngày sẽ làm hư hỏng vỏ bình gas và các linh kiện cao su dẫn đến dễ bị rò rỉ gas, gây cháy nổ. Chưa hết, do DME có áp suất thấp, nhiệt thấp nên khi sử dụng nhầm loại gas có trộn chất này sẽ không hiệu quả, thiệt hại cho người sử dụng. Đặc biệt, khi bình gas còn vài ký thì gas không còn đủ áp suất, dẫn đến lãng phí.

Hiệp hội Gas Việt Nam đã có văn bản gửi các DN thành viên trong hiệp hội khuyến cáo không được phép pha trộn DME vào sản phẩm gas. Ngoài ra, hiệp hội cũng đề nghị cơ quan chức năng có biện pháp kiểm tra, xử lý các trường hợp pha trộn chất này vào sản phẩm khí hóa lỏng để tránh thiệt hại cũng như bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng.

Cập nhật: Thứ tư, 18-1-2012

Vàng:

Diễn biến đầy sôi động và nghẹt thở với quá nhiều biến động

Đầu năm 2011, giá vàng SJC chỉ ở trên 36 triệu đồng nhưng đến ngày 31/12 đã vọt lên gần 42 triệu đồng. Như vậy, ngày cuối cùng của năm 2011 giá vàng chốt phiên do Công ty SJC niêm yết đã tăng tới 5,6 triệu đồng (tương đương gần 16%) so với ngày đầu của năm.

Thị trường vàng năm 2011 diễn biến đầy sôi động và nghẹt thở trong những ngày của tháng 8 khi giá vàng liên tiếp chinh phục những đỉnh cao mới và leo lên đến mốc 49 triệu đồng thì mới chịu dừng lại và từ từ giảm xuống, giá vàng lúc ở đỉnh cao nhất đã tăng tới hơn 12 triệu đồng so với đầu năm 2011.

Năm 2011 là năm thứ 11 giá vàng tăng liên tiếp và cũng là năm vàng đã có quá nhiều biến động, vượt qua tầm kiểm soát. Giá vàng trong nước nhiều lúc bỏ xa với giá thế giới tới trên 3 triệu đồng/lượng. Cơ quan quản lý thời của thống đốc Nguyễn văn Giàu không có cách gì để hạ giá vàng trong nước xuống ngoài việc tuyên bố trấn an và cuối cùng cho nhập khẩu vàng.

Đến thời của Tân Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã có hàng loạt biện pháp để bình ổn giá vàng với phương châm lấy nguồn vàng trong nước để bình ổn giá vàng. Một nhóm gồm SJC và 5 ngân hàng đã được chọn để thực thi bình ổn giá vàng. Các ngân hàng và SJC được ưu đãi sử dụng vàng huy động tiết kiệm của dân để bán ra đồng thời các đơn vị này được cấp phép để kinh doanh vàng trên tài khoản nhằm cân bằng nguồn vàng.

Ngân hàng Nhà nước đề ra mục tiêu: các DN này sẽ bán hàng với giá bình ổn sát với giá thế giới để ổn định thị trường. Và lần đầu tiên, một khái niệm vàng bị làm giá đã được đưa ra là khi giá vàng trong nước cao hơn thế giới 400.000 đồng.

Trong suốt 5 tháng qua, dù lượng vàng bán ra rất nhiều, nhưng các DN bình ổn vàng rất hiếm khi đưa giá vàng về được khoảng cách trên. Thông thường, khoảng cách vẫn được duy trì ở mức 2 triệu, thời điểm thấp là hơn 1 triệu đồng... những ngày giữa tháng 12, khoảng cách giá lại được đẩy lên một mức cao hơn khoảng 3 - 4 triệu đồng.

Một chính sách về quản lý vàng miếng đã chính thức công bố lấy ý kiến để trình lên Chính phủ vào đầu tháng 11.

Theo đó, chỉ những doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng trở lên, chiếm 25% thị phần trong 3 năm gần nhất mới được xem xét cho sản xuất, gia công vàng miếng. Với tinh thần mới này, 7 đơn vị có tên tuổi như Công ty Vàng bạc Phú Nhuận (PNJ), Công ty Vàng Bảo Tín Minh Châu, Ngân hàng Á Châu (ACB), Sacombank, Ngân hàng Phương Nam và hai doanh nghiệp trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ bị loại khỏi “cuộc chơi”.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình tuyên bố trước Quốc hội, vàng SJC trở thành thương hiệu vàng miếng quốc gia của Nhà nước. Hệ quả là ngay sau đó, vàng nhãn hiệu khác như Bảo Tín Minh Châu bị giảm giá mạnh, người dân hoang mang lo lắng khi đang nắm giữ vàng không phải là của SJC. Các doanh nghiệp sản xuất vàng nói trên thì lo ngại về phương hướng hoạt động kinh doanh của mình và một lượng tiền lớn đã trót bỏ ra để nhập về khối máy móc sản xuất vàng miếng sẽ phải nằm đắp chiếu.

Cuối trung tuần tháng 11, NHNN đăng tải toàn bộ nội dung dự thảo Nghị định quản lý thị trường vàng đã trình Chính phủ thay thế Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Vấn đề sở hữu vàng miếng trong dân một lần nữa lại dậy sóng. Dự thảo quy định :  Thời gian chuyển tiếp đối với hoạt động sản xuất, gia công, mua bán vàng trang sức mỹ nghệ là 12 tháng. Thời gian chuyển tiếp đối với hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng là 6 tháng. Sau thời gian này, hoạt động mua bán vàng miếng phải được thực hiện tại các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua bán vàng miếng.

Như vậy, hơn 10.000 cửa hàng kinh doanh vàng trên toàn quốc cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi dự thảo này.

Đô la :

Giữ thành công mức cam kết điều chỉnh tỷ giá không quá 1% đến hết năm 2011.

Một trong những ấn tượng nổi bật nhất năm 2011 chính là việc Ngân hàng Nhà nước giữ thành công mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mốc 20.828 đồng/USD, chỉ tăng 0,97% , tức là dưới mức cam kết điều chỉnh tỷ giá không quá 1% đến hết năm 2011.

Có thời điểm tỷ giá liên ngân hàng liên tục tăng mạnh, bất chấp cam kết trên của chính Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Bắt đầu từ ngày 5/10, tỷ giá này có chuỗi ngày tăng tới 14 ngày với mức tăng lên tới 175 đồng/USD, tương đương 0,85%. Tuy nhiên, ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã không điều chỉnh tỷ giá trong vòng 40 ngày liên tiếp. Ngày gần cuối năm, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lần cuối đưa tỷ giá cơ bản lên mức 20.828 đồng/USD.

Trong 12 tháng của năm 2011, giá USD có 5 tháng giảm, 7 tháng tăng và tính chung cả năm chỉ tăng 2,24%, thấp hơn nhiều so với giá tiêu dùng (18,13%) và giá vàng (24,09%). Năm 2011 giá USD cũng tăng thấp nhất so với 3 năm trước đó (2008 tăng 6,31%, 2009 tăng 10,7%, 2010 tăng 9,68%).

Thị trường ngoại tệ tự do đã thu hẹp đáng kể; tỷ giá trên thị trường tự do đã giảm khá mạnh trong thời gian dài hiếm thấy. Giá USD trên thị trường tự do từ chỗ cao hơn thị trường chính thức có lúc tới gần 2.000 VND/USD (gần 10%), đã giảm xuống mức thấp chỉ còn 200- 300 VND/USD hay 1-2%; thậm chí có lúc còn thấp hơn. Tỷ giá trên thị trường chính thức mức tối đa có lúc còn thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày. Khoảng cách tỷ giá giữa hai thị trường này cũng đã được thu hẹp, cùng quanh mức 21.165 VND. Tác động cụ thể là một số ngân hàng tăng cường bán ra USD để tăng thanh khoản VND.

Thành công trong điều hành chính sách ngoại tệ được thể hiện ở các điểm sau:

Việc điều chỉnh tỷ giá thực hiện theo tín hiệu thị trường, tránh tình trạng để sức ép bị dồn tích lại buộc phải tăng và khi tăng lại phải tăng với tốc độ quá cao (như đã xảy ra vào ngày 9/2/2011, tăng 9,3%).

Thay đổi phương thức điều hành tỷ giá. Trước đây, việc điều hành tỷ giá thường mang tính “giật cục”, cứ khoảng 6 tháng 1 lần tăng với tốc độ khá cao. Phương thức điều hành mới mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng  thông qua việc công bố tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng hàng ngày, mỗi lần chỉ tăng 5-10 đồng, nên có ưu điểm là ít gây sốc, các nhà đầu cơ làm giá cũng khó “đón lõng”; mức độ điều chỉnh mỗi lần thường không lớn, sóng nhỏ, nên việc “lướt sóng” cũng khó thực hiện.

Áp trần lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đối với USD ở mức 2% để hạ mạnh lãi suất từ 6% trước đó xuống, thấp xa so với lãi suất huy động VND đã tác động đến 2 mặt. Một mặt, thúc đẩy người dân bán ngoại tệ cho ngân hàng, chuyển từ quan hệ vay sang quan hệ mua đứt đoạn. Mặt khác, lãi suất huy động VND cao hơn so với huy động bằng USD nên khuyến khích người có USD bán cho ngân hàng lấy VND gửi tiết kiệm.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các ngành, các cấp trong việc thanh tra, xử lý việc niêm yết giá mua bán bằng ngoại tệ, các tụ điểm giao dịch ngoại tệ hiệu quả và bước đầu đủ sức răn đe.

THÉP

Đi qua năm 2011 với chồng chất khó khăn

Bước vào đầu năm 2011, thị trường thép xây dựng đã liên tục gây choáng khi chỉ chưa đầy 3 tháng, giá thép leo thang tới 4 - 5 lần với tổng mức tăng khoảng 2 triệu đồng/tấn. Tại thời điểm này, giá thép vào khoảng 18 triệu đồng/tấn, (chưa VAT). Cũng trong thời gian này, lo ngại với những biến động không ngừng của giá thép trong thời gian qua làm nhiều doanh nghiệp đã đẩy mua tích trữ khiến cho lượng thép sản xuất và tiêu thụ tăng khá mạnh.
Tuy nhiên, bước sang đầu quý II, giá thép bất ngờ giảm. Những tưởng đây chỉ đơn thuần chỉ là một đợt giảm giá sau nhiều tháng các doanh nghiệp tích trữ đem hàng ra xả mà là khởi đầu cho một quá trình giảm mạnh cả về giá cả và lượng tiêu thụ.

Đến giữa năm 2011, lượng thép tiêu thụ đã giảm đến 40% so với cùng kỳ năm 2010. Trong tháng 6, chỉ có 298.000 tấn thép được bán ra (thấp nhất trong năm). Sang đến tháng 7, tháng 8, các doanh nghiệp thép đã phải tìm đủ mọi cách để giải phóng hàng, như hạ giá bán, tăng mức chiết khấu bán hàng thêm 500.000 đồng, thậm chí 900.000 đồng/tấn; kể cả hỗ trợ chi phí vận chuyển, trợ giá cho các công trình xây dựng để lôi kéo khách hàng nhưng lượng tiêu thụ mới nhích lên được khoảng 483.000 tấn/tháng.

Với lượng tồn kho tháng nào cũng khoảng gần 500.000 tấn khiến hàng loạt doanh nghiệp ngành thép phải điêu đứng và kinh doanh khó khăn. Hầu hết các nhà máy thép chỉ chạy khoảng 60% công suất thiết kế. Với mỗi tấn thép tồn kho, mỗi tháng, doanh nghiệp phải trả lãi ngân hàng từ 300.000 - 400.000 nghìn đồng. Như vậy, chỉ riêng với số thép tồn kho này, các doanh nghiệp thép sẽ phải trả lãi cho ngân hàng khoảng gần 150 tỷ đồng/tháng.

Đến cuối tháng 8, đầu tháng 9, thị trường thép có sự chuyển biến nhẹ. Sức tiêu thụ thép xây dựng tăng lên đáng kể khiến hầu hết các doanh nghiệp tăng giá trở lại. Tại thời điểm này, giá nguyên liệu đầu vào cũng tăng nhẹ, phôi, thép phế tăng 10-15 USD/tấn, đạt mức 680 - 690 USD/tấn, thép phế cũng lên tới 470 - 480 USD/tấn. Nhiều doanh nghiệp đã khôi phục lại giá bán ban đầu hoặc tăng giá để bù lỗ cho những tháng trước.

Chỉ trong tháng 9, giá thép đã được các doanh nghiệp điều chỉnh tăng 2 tới 3 lần, dao động từ 18,6-18,8 triệu đồng/tấn, nhưng sức mua trên thị trường cũng chỉ ở mức trung bình khá.

Sự chuyển hướng tích cực trong tháng 9 đã khiến nhiều doanh nghiệp thép khấp khởi mừng thầm cho một tương lai tốt đẹp của thị trường thép những tháng cuối năm. Tuy nhiên sự thực không như kỳ vọng.

Thông thường các năm trước, thời điểm cuối năm công việc xây dựng diễn ra sôi động nhằm hoàn thành kế hoạch và tiêu thụ thép cũng vì thế mà tăng cao, song thực tế năm nay tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Tiêu thụ thép bắt đầu giảm sâu trong tháng 10 và bước sang tháng 11 và tháng 12 tình hình vẫn không mấy khả quan khi con số tiêu thụ luôn thấp hơn mức bình quân 420.000 – 450.000 tấn/tháng.

Những tháng cuối năm, giá thép (chưa VAT) phổ biến ở mức 15,7-15,95 triệu đồng/tấn tại phía Bắc và từ 16,32-17,4 triệu đồng/tấn ở phía Nam; giá bán lẻ thép ngoài thị trường phổ biến ở mức 18-18,7 triệu đồng/tấn.

Theo ông Phạm Chí Cường- Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2011 là một năm cực kỳ khó khăn đối với ngành thép. Đến cuối năm 2011, chưa có doanh nghiệp thép công bố phá sản, nhưng doanh nghiệp thép đang thua lỗ nặng nề. Quan ngại hơn, ông Cường thông tin, đang có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các DN thép với nhau. Nhiều DN bán phá giá ngay tại thị trường trong nước để đẩy mạnh lượng hàng tiêu thụ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thép trong nước còn đang chịu sức ép cạnh tranh gay gắt của thép nhập khẩu.

Nguyên nhân chính về những khó khăn của ngành thép trong năm 2011 vẫn là do chính sách cắt giảm đầu tư công, tạm dừng, hoãn các công trình chưa khởi công, hoặc quá thời hạn chưa khởi công không nằm trong danh mục các dự án thiết yếu của chính phủ ngay từ đầu năm. Bên cạnh đó, những chính sách trong lĩnh vực tiền tệ như việc điều chỉnh lãi suất, điều chỉnh tỷ giá, hạn chế tín dụng, kiểm soát nhằm giảm nhập siêu… đã khiến nhu cầu vật liệu xây dựng giảm đáng kể.

Bên cạnh đó, có tới gần 30% doanh nghiệp ngành thép đang sử dụng công nghệ lạc hậu, khoảng hơn 40% doanh nghiệp sử dụng công nghệ ở mức trung bình, chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến đã làm cho giá thành sản xuất thép trong nước luôn cao, khó cạnh tranh với thép nhập khẩu. Với sản lượng tiêu thụ thấp cùng với lượng tồn kho tính đến cuối năm 2011 là gần 500.000 tấn, gấp đôi so với mức cho phép nhưng các dự án thép mới vẫn phát triển tràn lan càng gây khó khăn cho thị trường.

Tuy nhiên cũng có một điểm sáng đáng mừng của ngành thép trong năm 2011 là xuất khẩu đạt kỷ lục.

Trong khi sức tiêu thụ trong nước giảm sút, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ và thị trường nhiều nước ASEAN như Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia...

Nếu như cả năm 2010 ngành thép xuất khẩu được 1,3 triệu tấn thép, trị giá gần 1,3 tỷ USD, thì chỉ trong 11 tháng của năm 2011, cả nước đã xuất khẩu 1,727 triệu tấn thép các loại, thu về 1,639 tỷ USD. Dự kiến, cả năm 2011, Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn thép, đạt giá trị kim ngạch 1,8 tỷ USD - kỷ lục cao nhất của ngành thép từ trước đến nay. Năm 2011 cũng là năm đầu tiên thép lọt vào top các mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD. 

Trong năm 2011, chính sách thặt chặt tín dụng đã ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu sử dụng thép. Chính phủ khẳng định năm 2012 sẽ tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, điều đó có nghĩa rằng sẽ tiếp tục là một năm khó khăn đối với ngành thép.

Nhưng đây cũng là cơ hội để sàng lọc, buộc ngành thép phải cấu trúc lại. Những doanh nghiệp không đủ khả năng phải bị loại ra khỏi ngành thép. Những nhà máy lạc hậu, quy mô nhỏ sẽ bị đào thải, hoặc các doanh nghiệp sẽ phải liên kết với nhau, tạo dựng thành những thương hiệu mạnh, chuyển hướng đầu tư sản xuất các chủng loại thép trong nước chưa sản xuất được. Doanh nghiệp thép phải tự đứng vững được trước khi chính sách bảo hộ chấm dứt đối với sản xuất thép vào năm 2017, bởi lẽ cuộc chiến về cạnh tranh lúc đó mới thật sự là khốc liệt.

Các chuyên gia cho rằng, trong ngắn hạn, giá thép trong nước sẽ không giảm đáng kể ngay khi giá nguyên vật liệu đang giảm, vì những công ty sản xuất thép vẫn đang gánh chịu lượng hàng tồn kho giá cao và chi phí vốn chưa giảm. Nếu xu hướng giảm của giá nguyên vật liệu tiếp tục trong năm 2012, các nhà sản xuất sẽ có thể giảm giá bán khi lượng hàng tồn kho giá cao đã được giải phóng bớt. Như vậy, giá thép trong nước sẽ dao động trong khoảng 14,5 - 17 triệu đồng/tấn.

Trong dài hạn, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng tiếp tục là yếu tố thúc đẩy nhu cầu sử dụng thép. Tốc độ đô thị hoá trung bình hàng năm của Việt Nam trong 10 năm qua vào khoảng 3,4%; tỷ lệ ước tính trong 10 năm tới vào khoảng 3%. Theo kế hoạch, tỷ lệ đô thị hoá có thể đạt 50% vào năm 2025.

XI MĂNG

Tồn kho gần 2 triệu tấn xi măng.

Đồng hành cùng với những khó khăn của ngành thép, ngành xi măng trong nước cũng có một năm đầy cực nhọc sau thực hiện Nghị quyết 11/2011 của Chính phủ.

Trong năm 2011, các công ty xi măng đã tăng giá ít nhất 3 lần để bù đắp một phần các chi phí đầu vào và tiêu thụ cũng rất khó khăn.

Nếu từ đầu năm, giá xi măng đang được bán ra phổ biến từ 900.000 đồng- 1,4 triệu đồng/tấn, tuỳ theo chủng loại và khu vực thì sang đến quý III/2011 đã lên tới 1,5 – 1,7 triệu đồng/tấn.
Việc liên tục tăng giá trong khi nguồn cung vô cùng dồi dào, các doanh nghiệp sản xuất xi măng lý giải: do phải kìm giá quá lâu nên tất cả các công ty xi măng đã phải chịu một khoản lỗ rất lớn. Ngoài ra, tổng chi phí năng lượng chiếm từ 45% đến 50% giá thành sản xuất ximăng. Với việc xăng dầu, điện than liên tục tăng đã làm cho giá thành xi măng tăng thêm. Mặt khác, việc tăng tỷ giá và tăng lãi suất ngân hàng (có nhà máy ximăng phải vay vốn với lãi suất trên 20%/năm) đã gây khó khăn lớn cho các nhà máy ximăng, đặc biệt là các dự án ximăng đã đến thời hạn phải trả nợ.

Giống như thị trường thép, thị trường xi măng cũng chứng kiến một sự sụt giảm tiêu thụ đáng kể bắt đầu từ cuối quý II. Lý giải cho việc sụt giảm tiêu thụ thời điểm này vẫn là do bắt đầu vào mùa mưa bão cùng với cắt giảm đầu tư công đã tác động đến thị trường tiêu thụ xi măng. Tuy nhiên đến những tháng cuối năm, các công trình đang gấp rút cho việc hoàn thành nhưng lượng xi măng tiêu thụ vẫn sụt giảm đáng kể. Khá nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng không đạt doanh số tiêu thụ, dù đã điều chỉnh kế hoạch sản xuất.

Nhiều nhà sản xuất đã chọn giải pháp tăng khuyến mại nhưng không làm thay đổi tình hình, một số nhà sản xuất còn hạ giá để tiêu thụ trong khi đang phải gồng mình với những khoản nợ và lỗ. Trong khi các nhà máy đang phải cắt giảm công suất thì các dự án xi măng mới vẫn phát triển tràn lan, không có quy hoạch. Đối phó với tình hình trên, các doanh nghiệp xi măng đã và đang cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu. Mặc dù, xuất khẩu được xác định chỉ là giải pháp tình thế trong lúc khó khăn nhưng ước tính trong năm 2011, các doanh nghiệp trong ngành xi măng sẽ xuất khẩu được 3,6 - 4 triệu tấn clinker và xi măng.

Tình hình sản xuất xi măng ở Việt Nam hiện nay đang đứng trước thực trạng cung vượt quá cầu, hiện nay nước ta có khoảng trên 100 nhà máy xi măng, công suất hoạt động của toàn ngành có thể đạt 60 triệu tấn/ năm, trong khi  lượng nhu cầu hàng năm chỉ đạt trên 50 triệu tấn. Cộng với sự ảm đạm của thị trường bất động sản đã khiến cho lượng xi măng tồn kho đến cuối năm 2011 lên tới 2 triệu tấn.

Đại diện Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết, việc tồn kho cộng với tốc độ tiêu thụ hàng chậm sẽ kéo theo hệ lụy là nhiều doanh nghiệp trong ngành xi măng có thể phải ngừng sản xuất hoặc bị phá sản trong thời gian tới. Nguy cơ thất nghiệp trong ngành xi măng rất đáng lo ngại.

Trong khi đầu ra trong nước gần như bế tắc, hướng xuất khẩu vẫn còn nhiều rào cản. Các doanh nghiệp trong ngành cho rằng xuất khẩu xi măng là bất khả thi bởi không như nhiều hàng hóa khác, xi măng là mặt hàng cồng kềnh nhưng giá trị thấp, vấn đề nan giải nhất là chi phí vận chuyển.

Hiện tại, thị trường xuất khẩu tốt nhất đối với ngành xi măng là các nước Đông Nam Á và Nam Á. Nhưng đây cũng là đích nhắm của những nhà sản xuất xi măng lớn trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia và Đài Loan nên mức độ cạnh tranh rất quyết liệt.

Một nguyên nhân nữa là hầu hết các dây chuyền sản xuất xi măng của Việt Nam mới được đầu tư, trong khi đối thủ cạnh tranh ở khu vực đã giải quyết xong chuyện khấu hao. Do đó, việc giá thành giữa doanh nghiệp xi măng trong nước với các đối thủ thực sự không cân sức; giá thành xi măng Việt Nam cao hơn của Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc. Chưa kể, nếu tính thêm chênh lệch về lãi vay ngân hàng, sản phẩm của doanh nghiệp xi măng trong nước càng yếu thế hơn.

Sang năm 2012, nếu vốn cho bất động sản chưa được cải thiện, các dự án hạ tầng bị cắt giảm theo chủ trương siết chặt đầu tư công, thì tiêu thụ xi măng, sẽ còn nan giải và việc trả nợ vốn vay đầu tư sẽ tiếp tục là bài toán khó đối với các doanh nghiệp.

XĂNG DẦU

Giá xăng tăng nhiều, giảm ít.

Ngay từ những tháng đầu năm 2011, từ 24/2 đến 29/3, giá xăng A92 đã có tới 2 lần tăng, với mức tăng 4.900 đồng/lít từ mức 16.400 đồng lên mức 21.300 đồng/lít. Dầu diesel thì tăng tới 6.350 đồng lít từ 14.750 đồng lên 21.100 đồng/lít. Đây là mức giá xăng dầu cao nhất từ trước đến nay.

Lý giải cho việc tăng giá, theo đại diện công ty xăng dầu Petrolimex, nhằm thực hiện tốt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc bình ổn giá cả mặt hàng xăng dầu, trong thời gian trước đó, công ty đã chấp hành nghiêm chỉnh quyết định này. Tuy nhiên, Tập đoàn đã lỗ quá nặng và mức lỗ này đã kéo dài khá lâu, nên các doanh nghiệp đầu mối gặp rất nhiều khó khăn. Cùng chịu mức lỗ như trên, đại diện Công ty xăng dầu Quân đội cũng cho biết, để bình ổn giá xăng dầu trong nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ các doanh nghiệp đã phải chịu một khoản lỗ lớn. Ngoài ra, quyết định tăng tỷ giá USD/VNĐ lên 9,3% của Ngân hàng Nhà nước kể từ ngày 11/2 đã tiếp tục đội thêm mức chênh lệch giữa giá bán với giá cơ sở xa hơn. Còn theo báo cáo của ông Bùi Ngọc Bảo, Tổng giám đốc Petrolimex, nếu giữ mức giá cũ, mỗi ngày Tổng công ty phải chịu lỗ khoảng hơn 70 tỷ đồng.

Sau gần 5 tháng “án binh bất động”, mãi đến ngày 26/8, giá bán của các mặt hàng này mới được điều chỉnh giảm nhẹ. Xăng giảm 500 đồng/lít, xuống còn 20.800 đồng/lít. Dầu diesel 0,05S từ 21.100 đồng/lít giảm còn 20.800 đồng/lít, tức giảm 300 đồng/lít.

Tuy nhiên, lần giảm giá này đã có sự bất đồng ý kiến giữa liên bộ Tài chính - Công Thương. Theo kết quả kiểm tra của Bộ Tài chính vừa được công bố ngày 19/12 cho thấy, tại thời điểm 26/8/2011, kết quả kinh doanh xăng dầu nội địa của các doanh nghiệp từ 1/7 - 26/8/2011 về cơ bản không lỗ lớn hoặc có lãi.

Ngoài ra, kết quả kiểm tra còn cho thấy, các doanh nghiệp này đều chi vượt định mức chi phí kinh doanh là 600 đồng/lít đối với các mặt hàng xăng dầu và 400 đồng/kg đối với dầu mazut. Vượt chi được xem là một trong những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp thua lỗ trong thời gian qua.

Theo diễn biến thị trường xăng dầu thế giới, giá xăng hợp đồng vẫn tiếp tục giảm trong tháng 9, tháng 10. Tuy nhiên giá xăng trong nước vẫn không được điều chỉnh giảm. Đến 10/10, Cục quản lý giá-Bộ Tài chính mới thống nhất với Bộ Công Thương giảm giá một số mặt hàng dầu.

Cụ thể đến 10/10, giá dầu diesel 0,05S giảm 400 đồng/lít, từ 20.800 đồng/lít xuống còn 20.400 đồng/lít. Giá dầu hỏa giảm 300 đồng/lít, từ 20.500 đồng/lít xuống còn 20.200 đồng/lít; Giá xăng RON 92 giữ nguyên 20.800 đồng/lít.

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành công thương 2012, đại diện Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) lại kiến nghị điều chỉnh giá xăng dầu trong năm 2012.

Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch HĐQT Petrolimex cho hay, năm 2011, dù giá dầu thô thấp hơn nhưng sản phẩm nhập khẩu lại cao nhất từ trước đến nay. So với năm 2008, giá dầu diesel tăng 40%, giá xăng tăng 17%.

Ông Bảo cho rằng, năm 2011 đáng ra phải có hơn 11 lần điều chỉnh giá xăng dầu mới đáp ứng được giá thị trường thì thực tế mới chỉ tăng, giảm ba lần. Năm 2012, giá dầu ước 97 USD/thùng, tương đương năm 2011 nhưng áp lực giá sẽ tiếp tục tăng. Đại diện Petrolimex đã kiến nghị cho phép doanh nghiệp có quyền quyết định về mức giá định kỳ trên cơ sở giá cơ bản của Bộ Tài chính, nếu vượt quá giá cơ bản thì Bộ Tài chính sẽ can thiệp.

Như vậy, nếu những kiến nghị của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam được thông qua, cộng với tỷ giá USD trong năm 2012 khó có thể giữ ở mức như hiện nay thì giá xăng dầu trong nước sẽ tiếp tục tăng.

GAS

Trong năm qua, mặt hàng gas đã có tới 9 lần tăng giá và 6 lần giảm giá

Sau khi Ngân hàng Nhà nước ra quyết định về việc điều chỉnh tỷ giá giữa USD/VND hồi tháng 2/2011, các hãng gas đã đồng loạt tăng giá.

Chỉ tính riêng trong tháng 3/2011, mặt hàng này đã có 2 lần tăng giá. Lần thứ nhất, vào đầu tháng 3, giá gas được điều chỉnh tăng thêm 9 – 10 nghìn đồng/bình 12kg và dao động trong 329 – 330 nghìn đồng/bình 12 kg. Đến cuối tháng 3, giá gas lại đột ngột tăng thêm 14.000 đồng/12 kg và dao động trong khoảng từ 340 – 350 nghìn đồng/bình 12 kg (tùy theo từng hãng). Với hai lần điều chỉnh giá liên tiếp, chỉ trong 1 tháng, giá gas đã tăng thêm từ 20.000 - 30.000 đồng/bình 12 kg.

Nguyên nhân của việc giá gas tăng liên tục trong tháng này được lý giải là do giá thế giới của sản phẩm này tăng thêm 25USD so với tháng trước và do nguồn hàng từ nhà máy lọc dầu Dung Quất bị gián đoạn và ngừng hoạt động để kiểm tra trong khoảng 1 – 2 tuần, khiến nguồn cung hàng bị thiếu hụt.

Sau khi chỉ tăng nhẹ 5.000 đồng/ bình 12 kg trong tháng 4, đến tháng 5, giá gas lại tiếp tục ghi nhận mức tăng kỷ lục lên tới 28.000 - 30.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ tới tay người tiêu dùng vào khoảng 380.000 đồng /bình 12kg.

Sau nhiều lần điều chỉnh tăng liên tục từ đầu năm đã khiến cho giá gas bán lẻ tại các đại lý càng chênh lệch lớn. Từ đầu tháng 5, giá gas thế giới tăng lên 970 USD/tấn (tăng 87,5 USD/tấn so với trước đó). Theo tính toán của các hãng, với mức tăng này, giá gas bán lẻ trong nước chỉ tăng khoảng 30.000 đồng/bình 12 kg là đã có lãi. Nhưng thực tế, có hãng tăng đến 40.000 đồng/bình. Tại thời điểm này, với bình 12 kg, Saigon Petro và Petro Việt Nam cùng giá 378.000 đồng/bình, Petrolimex là 386.000 đồng/bình, Saigon gas 388.000 đồng/bình, Total gas 396.000 đồng/bình, Elf gas 421.000 đồng/bình, Shell lên đến 426.000 đồng/bình… Như vậy, giá gas bán lẻ giữa các hãng trên thị trường chênh lệch từ 8.000 đồng cho đến 48.000 đồng/bình. Do vậy, người tiêu dùng không những phải chịu áp lực tăng giá từ các nhà sản xuất mà còn phải gánh chịu các mức giá chênh lệch khá lớn giữa các hãng gas trên thị trường.

Tuy nhiên, đan xen giữa những lần tăng, nhiên liệu này cũng có những đợt giảm giá.

Bước sang tháng 6, giá gas trong nước bắt đầu được điều chỉnh giảm từ 15.000 - 20.000 đồng//bình 12kg. Giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng dao động quanh mức 367.000 - 370.000 đồng/bình 12kg. Đến 1/7, giá gas trên thị trường TP.HCM lại tiếp tục giảm 10.000 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng là 357.000 đồng/bình 12 kg.

Tuy nhiên, theo ông Lê Phúc Đại, Tổng giám đốc Công ty cổ phần năng lượng Đại Việt Vinagas, đáng lẽ giá gas trong tháng 7 phải giảm nhiều hơn mức 10.000 đồng. Cụ thể, giá CP tháng 7 giảm 55 USD so với tháng 6. Với mức giảm này, thông thường giá gas sẽ hạ tới 15.000 đồng bình 12 kg. Tuy nhiên, việc nhà máy lọc dầu Dung Quất ngưng hoạt động 2 tháng để bảo dưỡng khiến các công ty phải mua hàng bổ sung. Hàng bổ sung này được bán với giá đắt hơn do nằm ngoài số lượng mà hợp đồng dài hạn đã ký.

Theo chủ một đại lý gas, lượng gas bán lẻ tính từ đầu năm đến đầu quý III đã giảm mạnh so cùng kỳ năm ngoái, giảm hơn 30% lượng tiêu thụ. Sở dĩ có hiện tượng như vậy bởi giá gas thời gian qua tăng nhanh cộng với nhiều mặt hàng thiết yếu khác cũng tăng khiến người dân thắt chặt chi tiêu. Do vậy đến thời điểm này, các hãng gas trong nước cũng phải mạnh tay hơn trong việc điều chỉnh giá nhằm thu hút người tiêu dùng tiêu thụ trở lại với loại chất đốt này.

Tuy nhiên, sang đầu tháng 8, khi giá hợp đồng giao tháng 8 đã tăng thêm 25 USD/tấn so với giá giao tháng 7, từ 835 USD/tấn lên 860 USD, giá gas bán lẻ trong nước đã được các doanh nghiệp phân phối và đại lý tăng thêm từ 8.000đ - 10.000/bình 12kg tùy thương hiệu so với giá công bố hồi đầu tháng 7. Giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng đã lên mức mới, phổ biến từ 365.000 - 370.000 đồng/bình. Như vậy, sau hai tháng 6 và 7 giảm liên tiếp với mức tổng cộng khoảng 25.000 đồng khi giá hợp đồng giảm 135 USD/tấn, giá gas lại tiếp tục tăng trở lại, gần bằng mức kỷ lục hơn 380.000 đồng hồi tháng 5.

Nhiều người tiêu dùng cho rằng các công ty tăng giảm giá bán lẻ trong nước không hợp lý với mức tăng giảm của giá thế giới. Hồi tháng 5, giá thế giới được các công ty công bố là 970 USD/tấn. Khi đó các công ty đẩy giá gas lên 380.000 – 390.000 đồng/bình 12 kg. Nay, giá thế giới còn 860 USD/tấn, giảm 110 USD mà giá gas tháng 8 vẫn còn tới 365.000 – 370.000 đồng/bình.

Lý giải điều này, đại diện nhiều doanh nghiệp cho rằng nguyên nhân là do trong thời gian vừa qua, giá CP giảm nhưng một yếu tố khác để tính giá bán lẻ là premium (gồm cước vận chuyển) liên tiếp tăng và ở mức cao. Bên cạnh đó, Nhà máy lọc dầu Dung Quất tạm ngưng hoạt động để bảo dưỡng, nhiều doanh nghiệp phải mua thêm hàng ngoài hợp đồng dài hạn nên phải chịu giá cao. Các lý do trên đã khiến cho mức giảm của giá bán lẻ trong nước không nhiều như mức giảm của giá thế giới.

Nhưng do giá gas thế giới giảm liên tiếp từ cuối tháng 8 nên giá gas đã được điều chỉnh giảm trong tháng 9 và tháng 10.

Nếu như giá gas hầu như biến động ở hầu hết các tháng trong năm thì duy nhất trong tháng 11, giá gas giữ nguyên mức 346.000 đ/bình 12kg.

Vào đầu tháng 12, giá gas chứng kiến lần tăng cuối cùng trong năm thêm 5.000 đồng/bình 12kg. Giá bán lẻ gas tới tay người tiêu dùng của các hãng như Saigon Petro, Giadinh Gas, CD Petro... dao động từ 350.000 - 360.000 đồng/bình 12kg.

Năm 2012, theo ước tính của Bộ Công Thương nhu cầu tiêu dùng gas của Việt Nam sẽ tăng dao động trong khoảng 6 - 7%, so với năm 2011. Trong khi, tổng nguồn cung gas nội địa từ nhà máy Dinh Cố và Dung Quất mới đạt khoảng 640 nghìn tấn, đáp ứng khoảng 48% nhu cầu của thị trường. 52% nhu cầu còn lại sẽ phải dựa vào nguồn hàng nhập khẩu. Nếu tỷ giá USD tiếp tục tăng, dự báo giá gas trong năm 2012 sẽ còn có nhiều biến động.

PHÂN BÓN

Giá phân bón bất ngờ giảm mạnh sau 11 tháng liên tục tăng.

Ngay từ những tháng đầu năm 2011, các tỉnh miền Bắc đang vào cao điểm vụ Đông Xuân, nhu cầu sử dụng phân bón tăng mạnh. Vì thế mà nhiều loại phân bón cũng đã nhanh chóng tăng giá, mức tăng từ 50.000 đến 150.000 đồng một tấn, có loại tăng tới trên 300.000 đồng một tấn. Cụ thể, giá phân Supe Lân Lào Cai ở mức 2.600 đồng/kg; Supe Lân Lâm Thao 2.600 đồng/kg; NPK 5-10-3 Lâm Thao 3.450 đồng/kg; NPK 5-12-3 Ninh Bình 3100 đồng/kg; Urea Trung Quốc 8.200 đồng/kg; Urea Phú Mỹ 8.550 đồng/kg; Kaly 9.900 đồng/kg.

Theo các đại lý kinh doanh phân bón, kể từ đầu tháng 3/2011, khi Nhà nước quyết định tăng giá điện, tăng giá xăng dầu và tỷ giá đồng USD/VND, giá các mặt hàng phân bón cũng tăng thêm 10%. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của người nông dân vì chi phí vật tư nông nghiệp mỗi ngày một tăng.

Theo ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục Trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), do phải nhập khẩu từ bên ngoài nên thời gian qua, giá phân bón trong nước đã tăng lên đáng kể vì giá thế giới tăng mạnh.

Giá phân bón tương đối ổn định trong tháng 6 và tháng 7. Tuy nhiên, đến cuối tháng 8, đầu tháng 9, chuẩn bị bước vào vụ thu đông, giá phân bón lại bất ngờ tăng mạnh.

Nếu như tháng 4 giá phân urê chỉ 420.000 đồng/bao 50kg (8.400 đồng/kg), phân DAP 640.000 đồng/bao và phân kali có giá 540.000 đồng/bao, thì đến tháng 9, giá phân urê đã bị đẩy lên đến 600.000 đồng/bao (12.000 đồng/kg), DAP lên 940.000 đồng/bao và phân kali hiện ở mức 615.000 đồng/bao. Tại một số nơi ở ĐBSCL, có đại lý hét giá 620.000-625.000 đồng mỗi bao phân urê, tức trên 12.000 đồng/kg, mức giá cao nhất từ trước đến nay.

Các công ty kinh doanh phân bón cũng thừa nhận, từ đầu năm giá phân bón trong nước hầu như chỉ tăng và tăng mạnh nhất trong tháng 9. Thực tế cho thấy trong vòng một năm qua, giá nhiều loại phân bón đã tăng đến 100%. Còn nếu so với năm 2009, mức tăng đến 200% (chẳng hạn, giá phân urê năm 2009 chỉ hơn 200.000 đồng/bao).

Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), nguyên nhân tăng giá phân bón hiện nay là do tác động tổng hợp của các yếu tố, trong đó một phần do giá nhập khẩu phân từ thế giới tăng cao (thời điểm này đã vượt trên 500 USD/tấn); một phần do bị làm giá và chịu ảnh hưởng của việc tăng giá than.

Phân bón đã được đưa vào danh sách những mặt hàng bình ổn giá. Tuy nhiên, việc bình ổn giá phân bón trên thị trường gặp nhiều khó khăn do phải nhập khẩu số lượng lớn nên phụ thuộc vào biến động giá thế giới; giá bán từ đầu nguồn đến đại lý còn chênh lệch cao...

Sau khi ổn định và có giảm giá nhẹ trong tháng 10 thì sang tháng 11, giá phân bón các loại đang tăng trở lại bởi nhu cầu phân bón phục vụ cho sản xuất vụ đông 2011/2012 tăng mạnh.

Trái ngược với các năm trước, những tháng cuối năm là thời điểm giá phân bón tăng do chuẩn bị vụ đông xuân. Tuy nhiên, ngay từ đầu tháng 12/2011 giá các loại phân bón đã liên tục giảm mạnh.

Sau đợt giảm giá nhẹ hồi đầu tháng 12, đến cuối tháng, phân urê (Đạm Phú Mỹ) được các đại lý kinh doanh phân bón tại Tiền Giang (đại lý cấp 1) bán với giá 500.000 đồng/bao, tiếp tục giảm 30.000 đồng/bao so với mức giá đầu tháng 12; urê (Trung Quốc) giảm 20.000 đồng/bao xuống giá 470.000 đồng/bao. Nếu so với mức giá hồi tháng 9, phân urê đã giảm khoảng 120.000-140.000 đồng/bao.

Dù ít biến động hơn, nhưng giá phân DAP cũng giảm 5.000-10.000 đồng/bao, xuống mức giá 880.000-890.000 đồng/bao đối với sản phẩm được nhập từ Philippines và 660.000 đồng/bao đối với sản phẩm do Trung Quốc sản xuất.

Theo Hiệp hội Phân bón VN, giá phân bón xuống thấp do nguồn cung sản xuất trong nước và nhập khẩu đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Thêm vào đó, phân bón trong nước đang phải cạnh tranh với phân bón nhập lậu chất lượng thấp giá rẻ.

Với nguồn cung dồi dào, dự báo giá các loại phân bón trong vụ đông xuân 2011-2012 tới có khả năng sẽ ở mức thấp, mặc dù nhu cầu tăng mạnh.

DƯỢC PHẨM

Thuốc nội và thuốc ngoại đều tăng giá mạnh

Ngay sau Tết Tân Mão, nhiều loại thuốc chữa bệnh đã tăng giá từ 5-20%. Đặc biệt trong năm 2011, thuốc nội cũng chạy theo cuộc đua tăng giá với thuốc ngoại.

Trong tháng 3/2011, nhiều loại thuốc nội đã được điều chỉnh giá bán ra thị trường mức độ tăng trung bình chung khoảng 20%, có một vài trường hợp cá biệt tăng đến 90% và 150%. like code

Cụ thể, Công ty TNHH Stada Việt Nam tăng 10% trên tất cả mặt hàng. Tương tự, 22 sản phẩm do Công ty Nhất Nhất phân phối phần lớn tăng trung bình 20%, riêng thuốc cai nghiện Bông Sen tăng 76%/chai. Đặc biệt, sản phẩm Cadef (hỗ trợ điều trị ung thư) của Traphaco tăng đến 150%. Cùng với thuốc nội, thuốc ngoại cũng tăng giá từ 5-10%. Các loại thuốc ngoại tăng giá chủ yếu tập trung vào các mặt hàng xuất xứ từ Pháp, Ấn Độ, Hàn Quốc.

Nguyên nhân tăng giá được lãnh đạo các công ty sản xuất và kinh doanh dược đưa ra vẫn là do chi phí đầu vào tăng: giá ngoại tệ, giá xăng, giá nguyên liệu, nhân công, vận chuyển… tăng nên giá thuốc phải tăng.

Tuy nhiên, có một thông tin đáng lưu ý là mặt hàng dược phẩm tăng giá xuất phát từ nguyên nhân khách quan thì ít mà nguyên nhân chủ quan nhiều. Các công ty dược phẩm thường kê khai giá bán cao hơn giá thực tế của mặt hàng, thậm chí kê khai cao gấp 100 – 200% rồi bán theo giá đó. Về đến các đại lý, lại thêm một đợt tăng giá nữa, mạnh ai người đó bán. Các đại lý bán thuốc sẽ cộng thêm chi phí mặt bằng, thuế và nhân viên… đẩy giá thuốc lên cao.Vì vậy mới có chuyện giá thuốc ở Việt Nam cao gấp 40 lần giá thuốc thế giới.

Trước tình hình đó, Bộ Y tế ngày 19/4/2011 đã ban hành Thông tư số 15/2011/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc bệnh viện.

Đến tháng 6/2011, sau khi thông tư của Bộ Y tế  chính thức có hiệu lực, hầu hết nhà thuốc của các bệnh viện ở Hà Nội như Bệnh viện Bạch Mai, Xanh Pôn, Việt Đức, Thanh Nhàn... đều hạ nhiệt giá thuốc và niêm yết đầy đủ giá bán lẻ. Các cửa hàng thuốc trên thị trường cũng thực hiện nghiêm túc hơn giúp thị trường thuốc ổn định. Nguồn cung dược phẩm dồi dào đáp ứng được nhu cầu chữa bệnh của nhân dân. Chỉ có một số ít thuốc nội và ngoại có điều chỉnh giá nhẹ, các loại thuốc có giá điều chỉnh tăng tập trung vào một số thuốc biệt dược, thuốc đặc trị, kháng sinh, vitamin và giảm đau. Một số loại thuốc có giá tăng do biến động chi phí đầu vào tăng, bên cạnh đó, một số thuốc tăng giá do khan hàng.

Mặc dù những quy định của Bộ Y tế được các cơ sở kinh doanh thuốc thực hiện khá nghiêm túc nhưng do giá nguyên liệu làm thuốc và các chi phí đầu vào khác đều tăng nên đến tháng 9, thị trường thuốc lại bước vào đợt tăng giá mới.

Đây có thể coi là lần tăng giá dược phẩm lần thứ 2 trong năm 2011 (lần thứ nhất vào tháng 2, đầu tháng 3 với 240 loại thuốc đã tăng giá từ 3% đến trên 20%).

Đợt tăng giá này có quy mô nhỏ hơn lần thứ nhất, tập trung ở nhóm thuốc vitamin, giảm đau, tim mạch, tiểu đường. Hơn 60 loại thuốc bị nâng giá với biên độ 3-10%,  Tại TP. HCM, Giá thuốc Pharmaton tăng lên khoảng 10%, từ giá 232.000 đồng/hộp lên 252.000 đồng/hộp. Tương tự, thuốc Tobradex lên 45.100 đồng/lọ từ mức 41.500 đồng/lọ. Thuốc Methycopan cũng đã tăng giá từ 32.000 đồng/vỉ lên 35.000 đồng/vỉ. Điển hình là Dogmatin 5mg từ 110.000 đồng/hộp lên 115.000 đồng/hộp; Enalapril từ 112.500 đồng/hộp lên 118.125 đồng/hộp; Efferagan Codein từ 323.000 đồng/hộp lên 345.000 đồng/hộp; Vastaren MR từ 138.000 đồng/hộp lên 149.000 đồng/hộp.

Trong những tháng cuối năm, Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) thường xuyên nhắc nhở các doanh nghiệp dược và những cơ sở sản xuất, phân phối dược phẩm về chuyện giá thuốc; đồng thời khẳng định sẽ xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng sự điều chỉnh giá một số mặt hàng trọng yếu để tăng giá bất hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, giá thuốc trên thị trường tự do vẫn lặng lẽ tăng. Do thời tiết lạnh, giá một số loại thuốc trị ho, cảm cúm, nhức đầu, thuốc trị nhiễm khuẩn hô hấp, viêm mũi dị ứng, đau nhức cơ khớp… cũng rục rịch tăng giá.

Theo khảo sát của Hiệp hội sản xuất kinh doanh dược, trong những tháng cuối năm, giá các loại thuốc nội tăng giá trung bình khoảng 5,5%; thuốc ngoại tăng trung bình khoảng 7,8%. Trong đó mặt hàng tăng chủ yếu là thuốc điều trị các bệnh liên quan đến thời tiết.

Đại diện của Hiệp hội Sản xuất kinh doanh dược Việt Nam cho biết, theo các khảo sát định kỳ về giá thuốc mà Hiệp hội thực hiện thì tháng nào cũng có hàng chục mặt hàng được điều chỉnh tăng giá, trong đó các mặt hàng thuốc nhập ngoại được điều chỉnh tăng giá nhiều hơn. Lý do giá một số loại thuốc sản xuất trong nước và một số thuốc thành phẩm nhập khẩu bán lẻ trên thị trường bị điều chỉnh là do tỉ giá ngoại tệ thay đổi. Tuy vậy cũng không loại trừ có một số trường hợp giá ngoại tệ chỉ điều chỉnh nhẹ nhưng một số doanh nghiệp, công ty nhập khẩu, phân phối thuốc đã “té nước theo mưa”.

Về nguyên nhân thuốc nhập ngoại tăng giá, các chuyên gia trong lĩnh vực dược đều cho rằng, thuốc ngoại tăng gồm nhiều yếu tố bên cạnh tỉ giá ngoại tệ, thuốc độc quyền, hoa hồng cho bác sĩ, chi phí quảng cáo. Chính lỗ hổng từ việc bác sĩ vừa khám bệnh, vừa kê toa bán thuốc cũng góp phần đẩy giá thuốc ngoại tăng lên. Thậm chí, nhiều loại vitamin ngoại nhập cũng được các bác sĩ kê vào toa tràn lan khiến chi phí khám - chữa bệnh của người bệnh đội lên nhiều lần.
Nhiều ý kiến cho rằng, nên có một chiến lược truyền thông ưu tiên khuyến khích các bác sĩ kê các loại thuốc nội, thuốc phiên bản để giảm chi phí cho người bệnh. Trên thực tế, thuốc phiên bản tiết kiệm cho cộng đồng mỗi năm hàng tỉ USD; nhưng hiện nay, nhiều bác sĩ tại các bệnh viện vẫn chưa có thói quen kê đơn cho bệnh nhân sử dụng loại thuốc này. Người bệnh có thể tiết kiệm được 40% - 60% chi phí khi sử dụng một loại thuốc generic, thay vì sử dụng biệt dược. Giá thành của thuốc generic thấp hơn nhiều lần so với thuốc phát minh, do thuốc này bỏ qua chi phí và thời gian đòi hỏi để chứng tỏ hiệu quả của thuốc - thông qua các thử nghiệm lâm sàng.

Tuy nhiên, theo bà Phạm Khánh Phong Lan, phó giám đốc sở Y tế, các DN dược cần phải chứng minh thuốc sản xuất trong nước tương đương về chất lượng và hiệu quả, đặc biệt là tương đương về tác dụng điều trị so với thuốc ngoại nhập. Có vậy, bác sĩ mới tin mà kê đơn. Về quản lý vĩ mô, nếu hoạt chất nào trong nước sản xuất được thuốc, thậm chí sản xuất được nhiều rồi thì nên hạn chế những thuốc ngoại nhập có hoạt chất tương tự.

Năm 2012, các yếu tố đầu vào cho sản xuất như điện, nguyên phụ liệu, xăng dầu, chi phí vận tải… đều tăng. Tỷ giá ngoại tệ đã vượt ngưỡng 21.000 đồng/USD. Do đó, với hơn 90% nguyên liệu phải nhập khẩu, 50% nhập khẩu thuốc thành phẩm, thị trường dược phẩm sẽ còn chứng kiến nhiều đợt tăng giá mới.

SỮA

Mặc cho người dân phải thắt chặt hầu bao do kinh tế suy giảm, giá sữa vẫn tăng chóng mặt.

Ngay từ tháng 1/2011, nhiều hãng sữa đã tăng giá bán của các sản phẩm thêm từ 5-15% so với giá bán trước đó. Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) là đơn vị điều chỉnh giá đầu tiên trong năm 2011, với việc tăng giá sữa bột các loại lên trung bình 12%.
Sau Tết Nguyên đán, từ ngày 8/2, lại có thêm công ty FrieslandCampina Việt Nam chính thức tăng giá hầu hết các sản phẩm sữa Friso với mức tăng từ 5-10%. Riêng sản phẩm sữa bột Cô gái Hà Lan (Dutch Lady) mức tăng là từ 13-15%.

Sang tháng 3, giá sữa lại tiếp tục tăng cao, khiến người tiêu dùng méo mặt trong việc lựa chọn sản phẩm sữa cho con em mình. Trong đó ngay đầu tháng 3, hơn 40 loại sản phẩm sữa của hãng Abbott đã tăng giá 10-20%. Tiếp tục những ngày sau đó, nhiều hãng sữa khác như Mead Johnson, XO, Milex… tiếp tục điều chỉnh tăng 5-15% giá bán. Hãng Hanco food cũng điều chỉnh giá sữa tăng từ 5-10%.

Đến 15/4, giá sữa lại được cộng thêm từ 5% đến 10%. Các sản phẩm sữa của Abbot lại đồng loạt tăng giá. Giá 1 hộp Ensure Gold – 900g là 560.000 đồng. Trong khi đó, từ giữa tháng 3, mặt hàng này đã tăng vọt từ 474.000 đồng lên lên 550.000 đồng. Sữa Gain Plus IQ 900g cũng tăng khoảng 10.000 đồng lên 400.000 đồng. Sữa Pediasure 900gr tăng mạnh hơn lên 490.000 đồng.

Không chỉ Abbot tăng giá, các loại sữa khác cũng đi lên. XO tăng với tốc độ mạnh nhất khoảng 10%. Sữa bột XO Kid 660g giá 278.000 đồng. Sữa bột XO Kid 350g giá 160.000 đồng. Sữa XO mom 400g tăng lên 190.000 đồng.

Nguyên nhân khiến các hãng sữa buộc phải tăng giá bán liên tiếp trong những tháng đầu năm được cho là do đồng tiền Việt Nam tiếp tục trượt giá mạnh so với USD. Chỉ trong vòng 6 tháng (tháng 8/2010 – tháng 2/2011), Ngân hàng Nhà nước đã liên tục phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái tới 2  lần (hồi tháng 8/2010 mức tăng là khoảng 3% và ngày 11/2/2011 tỷ giá đã được điều chỉnh tăng tới 9,3%). Điều này đã gây áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp và hàng hóa nhập khẩu.

Không chỉ có vậy, từ 1/1/2011, việc Bộ Tài chính quyết định tăng thuế nhập khẩu sữa từ các nước không thuộc ASEAN (như Mỹ và châu Âu) thêm 5% (từ mức 5% lên 10%), cũng đã tác động  mạnh đến giá các loại sữa nguyên liệu cũng như sữa thành phẩm nhập khẩu. Vì các lý do trên, cả sữa nhập khẩu và sữa nội cùng phải điều chỉnh giá bán.

Tuy nhiên, các chuyên gia thị trường nhận định rằng chính người tiêu dùng đã tham gia đẩy giá sữa tăng cao. Tâm lý sính ngoại khiến các bà mẹ cho rằng sữa ngoại đắt tiền nên sẽ cung cấp đầy đủ dinh dưỡng hơn cho con. Nhưng trên thực tế, sữa nội cũng được đánh giá là đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ em.

Đến đầu tháng 12, nhiều công ty sữa đã cùng xin điều chỉnh tăng giá lên Bộ Tài chính. Trong đó, hãng Mead Johnson có mức đề xuất tăng mạnh nhất, từ 18 - 19% áp dụng cho 3/37 mặt hàng; Abbott có 30/33 mặt hàng tăng giá 9%; Nestlé có 5/20 mặt hàng tăng giá 2 - 10%. Chạy đua với thị trường, Công ty Nestlé Việt Nam cũng không thua kém đối thủ khi áp dụng mức giá tăng thêm từ 8 - 10% đối với 5 loại sữa, trong đó có Nan và Lactogen Gold. Trước đó 3 tháng, dòng sữa Lactogen nhập khẩu từ Philippines của đơn vị này cũng đã nâng giá 3 - 10%. Trong khi đó, Công ty cổ phần Sữa VN (Vinamilk) vẫn khẳng định công ty đã cam kết thực hiện chương trình bình ổn giá với TP đến hết năm 2011 nên không tăng giá bất kỳ sản phẩm nào.

Nguyên nhân các doanh nghiệp đề nghị tăng giá, vẫn là do chi phí lương tăng, cộng thêm tác động tỉ giá, nguyên liệu đầu vào, sắp xếp lại mã số thuế khi khai báo hải quan...

Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, giải thích của các hãng sữa lần này khó chấp nhận được, nhất là lý do chi phí đầu vào cao. Theo phân tích, sữa bột gầy tại thị trường châu Đại Dương thời điểm này khoảng 3.200 – 3.500 USD/tấn, giảm 100 USD/tấn, còn các loại nguyên liệu khác như bơ, phô mai, chất béo giảm mạnh đến 300 USD/tấn do nguồn cung trên thị trường thế giới dồi dào. Như vậy, khi giá nguyên liệu thế giới tăng, hàng loạt công ty sữa nước ngoài tăng giá bán lẻ tại Việt Nam. Nhưng khi giá thế giới quay đầu giảm sâu, họ lại không giảm giá.

Nếu như người tiêu dùng trong nước vẫn không thể thay đổi được tâm lý sính ngoại, nhà nước không có những chính sách quản lý chặt chẽ mặt hàng sữa nhập khẩu thì trong tương lai, các hãng sữa nước ngoài sẽ tiếp tục thống lĩnh, lộng quyền và lũng đoạn thị trường sữa.

THỨC ĂN CHĂN NUÔI

Giá thức ăn chăn nuôi tăng gần 30% so với năm 2010

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2011, giá của tất cả các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lẫn thức ăn chăn nuôi thành phẩm đồng loạt tăng mạnh.

Cụ thể, giá ngô năm nay tăng 32,3% so với năm ngoái, đạt 7.611 đồng/kg; giá cám gạo tăng 29,5% lên 6.910 đồng/kg; giá sắn lát tăng 26,7% lên 6.107 đồng/kg. Giá bột cá tăng 4% lên 21.222 đồng/kg; Lyzin 55.319đ/kg, tăng 36,0%; Methionin giá 113.798đ/kg, tăng 12,2% và khô dầu đậu tương tăng 9% lên 10.212đ/kg.

Do giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng cao nên giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm tăng mạnh theo, cụ thể: cám gà Broiler 10.302đ/kg, tăng 26,2% so với năm 2010, cám lợn thịt giai đoạn từ 60kg đến xuất chuồng tăng 31,7% lên 9.105đ/kg.

Nếu tính từ tháng 9/2009, thời điểm Thủ tướng Chính phủ có quyết định đưa TACN vào danh mục mặt hàng bình ổn giá đến nay, giá mặt hàng này đã có không dưới 30 lần điều chỉnh tăng giá.

Cục Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi năm 2011 tăng khoảng 5% so với năm 2010 với số lượng 8,2 triệu tấn, giá trị 3,3 tỉ USD.

Cụ thể là nhập khẩu khô dầu đậu nành các loại đạt 2,96 triệu tấn, khô dầu các loại ngô đạt 870.000 tấn, cám nguyên liệu 570.000 tấn và lúa mì đạt 2,3 triệu tấn (bao gồm cả phần sử dụng cho người)...Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu, doanh nghiệp cũng phải nhập khẩu các loại thức ăn bổ sung khác.

Theo ông Đoàn Xuân Trúc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho biết, nguyên nhân khiến cho giá thức ăn chăn nuôi tăng là do tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô-la tăng và nguyên liệu từ các nước tăng mà nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi của nước ta chủ yếu là nhập khẩu, nhất là ngô và đậu tương.

Một phần nguyên nhân giá TACN liên tục phi nước đại là do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Theo Hiệp hội TACN, Việt Nam đang phải nhập từ 20 - 25% nguyên liệu giàu năng lượng, 65 - 70% nguyên liệu giàu đạm và 85 - 90% thức ăn bổ sung để sản xuất các loại TACN. Cụ thể, hiện các doanh nghiệp đang phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu; chất khoáng, vitamin, tạo mùi nhập 100%; ngô hơn 50%... Ngay đầu năm 2011, nguồn cung nguyên liệu đã khan hiếm, trong khi nhu cầu tăng vọt đã đẩy giá nhập khẩu tăng chóng mặt.
Điều đáng nói là nằm trong danh mục ưu tiên bình ổn giá và phải làm thủ tục đăng ký giá đối với Bộ Tài chính trước khi tăng giá, thế nhưng mặt hàng TACN rất dễ dàng tăng giá, bởi thị phần TACN hầu hết nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp trên đã đầu tư hàng chục tỷ USD xây dựng nhà máy chủ động nhập khẩu hầu hết nguyên liệu đầu vào để sản xuất và cung cấp TACN. Việc can thiệp buộc họ giảm giá bán là điều không dễ. Sự độc tôn sản phẩm, cộng với sự thiếu sản phẩm của những đơn vị trong nước khiến thị trường ít có tính cạnh tranh, do đó giá do một nhóm nhỏ doanh nghiệp quyết định.

Thực tế, thức ăn chăn nuôi chiếm đến hơn 70% chi phí sản xuất của ngành chăn nuôi. Thức ăn chăn nuôi tăng giá đã góp phần làm cho giá thực phẩm trên thị trường tăng theo. Trong khi đó thực phẩm lại là mặt hàng chiếm tỉ trọng rất lớn trong việc tính chỉ số lạm phát. Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp khắc phục trình trạng ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc chủ yếu vào nước ngoài khiến khó kiểm soát giá thức ăn chăn nuôi là hết sức cấp bách và cần thiết.

XE MÁY

Trái với quy luật, thị trường xe máy cuối năm vô cùng ảm đạm

Trong một năm mà nền kinh tế nước nhà được đánh giá là khó khăn nhất trong vòng nhiều năm qua, thì không hẹn mà gặp, hàng loạt dự án đầu tư mở rộng sản xuất xe máy tại Việt Nam liên tiếp xuất hiện. Với nhiều kỳ vọng vào sự phát triển hơn nữa của thị trường trong tương lai, cả ba thương hiệu đang chiếm thị phần lớn trong nước là Honda, Yamaha và Piaggio lần lượt công bố kế hoạch mở rộng nhà máy sản xuất và nâng công suất lắp ráp.

Mở đầu làn sóng đầu tư trong năm 2011 là liên doanh xe máy đến từ Italia. Tháng 4/2011, Piaggio tiến hành động thổ xây dựng nhà máy sản xuất và lắp ráp thứ 2 tại Vĩnh Phúc với mục tiêu nâng sản lượng từ 100.000 lên 300.000 xe/năm vào giữa năm 2012. Đến tháng 8/2011, Yamaha là liên doanh sản xuất xe máy thứ hai công bố kế hoạch thúc đẩy sản xuất nhằm mở rộng thị trường bằng dự án đầu tư hơn 26 triệu USD vào việc tăng công suất sản xuất xe máy hiện có. Với dự án này, Yamaha đặt mục tiêu tăng thêm 50% công suất lắp ráp để nâng sản lượng lên 1,5 triệu xe/năm, từng bước nâng khả năng cạnh tranh với đối thủ đồng hương Honda tại thị trường Việt Nam.
Những ngày cuối năm 2011, người tiêu dùng trên cả nước tiếp tục được chứng kiến lễ khởi công nhà máy sản xuất và lắp ráp xe máy thứ 3 của Honda tại Hà Nam vào ngày 19/12 với tổng vốn đầu tư lên đến 120,5 triệu USD. Sau khi nhà máy này đi vào hoạt động (dự kiến cuối năm 2012), liên doanh xe máy có thị phần lớn nhất Việt Nam sẽ nâng tổng công suất lắp ráp lên mức 2,5 triệu xe/năm.

Tuy nhiên, kết quả lại không được như mong muốn. Những năm trước, dịp cuối năm luôn là thời điểm mà lượng xe máy được người tiêu dùng tiêu thụ nhiều nhất. Thậm chí các cửa hàng kinh doanh đua nhau làm giá khiến người tiêu dùng phải mất thêm khá nhiều tiền mới có thể sở hữu được chiếc xe mong muốn. Nhưng năm 2011 thì khác, mặc dù các đơn vị bán lẻ tung ra nhiều chiêu trò như khuyến mãi, bán thấp hơn giá đề xuất… để thu hút khách hàng đến với sản phẩm của mình nhưng thị trường vẫn ảm đạm. Tình trạng ế ẩm đã và đang diễn ra hầu hết tại các tỉnh thành trên toàn quốc với phần lớn các thương hiệu.

Nguyên nhân thị trường xe máy ế ẩm dịp cuối năm là do tác động của khủng hoảng kinh tế khiến phần lớn các gia đình buộc phải thắt chặt chi tiêu, không mua sắm mới mà tiếp tục sử dụng phương tiện sẵn có. Các cơ sở kinh doanh xe máy cũng nhận định nguyên nhân xe bán ế đặc biệt là các dòng xe tay ga do bị ảnh hưởng từ tâm lý lo ngại sau hàng loạt các vụ cháy xe. Mặc dù vậy, giải thích cho việc giảm giá xe hàng loạt thì các cơ sở kinh doanh lại viện dẫn lý do nhà chế tạo tăng cường đầu tư, nâng công suất sản xuất xe máy nên các cửa hàng buộc phải cân đối lại giá bán để giải phóng hàng tồn kho. Có thể nói tình trạng ế ẩm và hạ giá những mẫu xe ăn khách trong năm 2011 là một minh chứng cho thấy thị trường xe máy Việt Nam đang bước vào thời kỳ bão hòa.

HẠT TIÊU

Việt Nam chi phối giá hạt tiêu thế giới. Giá hạt tiêu lên mức kỷ lục 15 năm.

Trong khi các Hiệp hội, ngành hàng dù kim ngạch xuất khẩu lớn hay nhỏ vẫn loay hoay tìm chỗ đứng, thì ngành tiêu Việt Nam đã chi phối cả nguồn cung và giá cả thị trường thế giới.

Năm 2011, thị trường hồ tiêu diễn biến rất phức tạp. Những tháng đầu năm 2011, vùng trồng tiêu ở Đông Nam bộ thu hoạch ở giai đoạn cuối, nguồn hàng đưa ra thị trường không còn dồi dào, giá hạt tiêu tăng giảm liên tục và dao động ở mức 100.000 – 120.000 đồng/kg.

Đến tháng 8/2011, giá hạt tiêu bắt đầu bước vào chu kỳ tăng giá liên tục. Sau khi vượt mốc 130.000 đồng/kg vào cuối tháng 8, sang tháng 9, tháng 10, giá hạt tiêu mỗi ngày lập một kỷ lục mới.

Đầu tháng 9, giá tiêu đen xô tại Bà Rịa-Vũng Tàu tăng lên mức 140.000 đồng/kg, mốc kỷ lục mới tính từ năm 1996. Đến giữa tháng 9, giá tiêu xô tại thị trường Bà Rịa-Vũng Tàu lại thiết lập kỷ lục mới 145.000 đồng/kg.

Mặc dù trong tháng 7, 8 có nhiều dự báo giá tiêu sẽ giảm trong tháng ăn chay của Hồi giáo dựa theo diễn biến thị trường xưa nay. Nhưng vì dự trữ của thế giới ngày càng thấp, nhu cầu tiêu thụ ngày càng nhiều trong khi các nước sản xuất hạt tiêu chủ chốt vừa có thêm một vụ mùa thất bát nên giá hạt tiêu thế giới tiếp tục tăng cao.

Cuối tháng 9, giá tiêu đen xô tại Bà Rịa-Vũng Tàu đã tăng lên mức 156.000 đồng/kg. Đến trung tuần tháng 10, giá hạt tiêu xô tại Bà Rịa-Vũng Tàu đã tiếp tục lập đỉnh mới 158.000 đồng/kg, mức cao kỷ lục cho giá hạt tiêu xô Việt Nam.

Tại thời điểm này, thế giới chỉ còn trông đợi nguồn cung từ Việt Nam nên các doanh nghiệp xuất khẩu đã nắm bắt cơ hội giá cao để bán tiêu một cách hợp lý.

Giá tăng còn do đầu cơ thế giới trước dự báo hạt tiêu sẽ thiếu hụt nghiêm trọng và tác động bởi giá cả nông sản thế giới không ngừng tăng cao khiến cho nông dân các nước sản xuất chính cầm hàng đợi giá khiến nguồn cung thêm khủng hoảng. Như vậy, chỉ trong vòng 1 tháng, giá tiêu xô nội địa đã tăng 20 %. Mức tăng mạnh đến mức đã biến một số nông dân trồng tiêu trở thành nhà đầu cơ nông sản.

Tuy nhiên đến gần cuối tháng 10 (25/10), giá tiêu xô trong nước tại Bà Rịa – Vũng Tàu lao dốc xuống còn 142.000-144.000 đồng/kg.

Tiếp theo đà lao dốc vào cuối tháng 10, sang tháng 11, giá hạt tiêu lại tiếp tục giảm mạnh xuống mức 138.000-140.000 đồng/kg, giảm xấp xỉ 20.000 đồng/kg so với đỉnh đã lập vào trung tuần tháng 10.

Tháng cuối cùng của năm, giá tiêu đen xô tại thị trường Bà Rịa-Vũng Tàu có lúc nhích lên 144.000 đồng/kg và giữ vững mức giá 130.000 – 140.000 đồng/kg trong tháng. Mặc dù giảm hơn 20.000 đồng so với mức cao kỷ lục nhưng đây vẫn là mức rất cao so với mọi năm. Tuy nhiên thị trường cuối năm giao dịch rất trầm lắng do nguồn cung hạt tiêu trong dân đã cạn kiệt, phần trong tay nhà đầu cơ không bán ở vùng giá thấp.

Theo báo cáo thống kê của Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ước lượng tiêu xuất khẩu năm 2011 đạt 125 ngàn tấn, kim ngạch 736 triệu USD, tăng 7,2% về lượng và kim ngạch tăng tới 74,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu tiêu cũng đã đạt một kỷ lục mới, giá bình quân đạt 5.867 USD/tấn, tăng 66,3% so với cùng kỳ.

Giới phân tích quốc tế cho biết, năm 2011 Việt Nam đã thay Ấn Độ chi phối thị trường tiêu và 2012 cũng vẫn như vậy vì nguồn cung dồi dào do mở rộng diện tích, trong khi cung từ các nước vẫn sụt giảm bởi thời tiết thất thường.
Các thương nhân trên thị trường hạt tiêu cũng nhận định giá có thể tăng trong thời gian tới do lượng hàng có sẵn trên toàn cầu hiện ở mức thấp, chủ yếu do Việt Nam - nước xuất khẩu tiêu lớn nhất thế giới đã bán hầu hết sản lượng của vụ mùa cũ.

GẠO

Việt Nam có thể sẽ thay thế Thái Lan để trở thành nước xuất khẩu gạo số 1 thế giới

Mới chính thức hội nhập nền kinh tế quốc tế năm 2007, song riêng trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, Việt Nam đã ghi điểm liên tục trong nhiều năm trước đó và được đánh giá là nguồn cung cấp lương thực quan trọng của thị trường thế giới. Trong vòng 3 năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn đạt mức trên 2 tỷ USD và năm 2009, 2010 ghi dấu những kỷ lục mới khi liên tiếp đạt mức xuất khẩu lần lượt là 6 triệu và 6,75 triệu tấn với kim ngạch xấp xỉ 3 tỷ USD. Năm 2011, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA),  xuất khẩu gạo đạt được sự tăng trưởng khá vững chắc. Lượng gạo xuất khẩu cả năm 2011 ước đạt 7,2 triệu tấn, với kim ngạch 3,7 tỷ USD, so cùng kỳ năm 2010 tăng 4,4% về lượng và 14% về giá trị.

Đặc biệt, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam năm nay ở mức khá cao, tăng bình quân 9% so với năm 2010. Hơn thế, khoảng cách về giá một số loại gạo chủ yếu xuất khẩu của nước ta so với gạo cùng phẩm cấp của Thái Lan - một nước đứng đầu về xuất khẩu gạo thế giới - không còn cách xa, thậm chí có thời điểm giá còn cao hơn từ 1 - 6 USD/tấn. Điều này cho thấy, vị thế của hạt gạo Việt Nam đang ngày một được khẳng định trên thị trường quốc tế.

Nguyên nhân giá gạo xuất khẩu năm 2011 tăng là do: Thứ nhất, chính phủ Thái Lan tăng giá thu mua lúa gạo trong nước dẫn đến giá gạo xuất khẩu của nước này cũng được đẩy lên, nhờ đó mà xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng được hưởng lợi theo. Thứ hai, tình hình lũ lụt vào những tháng gần cuối năm ở các nước Đông Nam Á dẫn đến nguồn cung trong ngắn hạn cũng có chút thiếu hụt. Thứ ba, giá các sản phẩm ngũ cốc khác (ngô, lúa mỳ) cũng tăng mạnh.

Thị trường gạo xuất khẩu cũng có nhiều thay đổi, vượt qua Philippin, Inđônêxia trở thành thị trường tiêu thụ gạo hàng đầu (chiếm 26,8% tỷ trọng giá trị xuất khẩu gạo và gấp 4 lần cả về khối lượng và giá trị so với năm 2010), Xênêgan và Trung Quốc cũng là hai thị trường có sự tăng trưởng vượt bậc so với cùng kỳ năm trước, gấp khoảng 3 lần.

Cùng với những biến chuyển nói trên, các chuyên gia trong ngành cho rằng, những diễn biến không thuận lợi của lĩnh vực xuất khẩu gạo Thái Lan khi nước này đang bị thiên tai cùng chính sách nâng giá thu mua gạo trong nước... đang là những cơ hội để hạt gạo Việt Nam tiếp tục khẳng định vị trí của mình; có thể nói là thời cơ để gạo Việt Nam cạnh tranh với nước đang có lượng xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới.

Tuy nhiên các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam cũng đang đối diện với những khó khăn mới khi có một đối thủ đáng gờm đang cạnh tranh về giá khá khốc liệt. Thông tin về việc Ấn Độ đã quyết định xuất khẩu trở lại 1 triệu tấn gạo với giá sàn chỉ là 400 USD/tấn, cho thấy, gạo của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với giá cực sốc của nước này trên thị trường thế giới. Theo VFA, hiện Ấn Độ đang xuất khẩu gạo trắng vào các thị trường bình dân và có giá trung bình thấp hơn gạo Việt Nam tới 100 USD/ tấn.

Bởi vậy, để có thể giữ vững vị trí xuất khẩu cũng như khẳng định giá trị, chất lượng của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, cạnh tranh mạnh mẽ với đối thủ khác, VFA khuyến cáo, các doanh nghiệp trong nước cần nỗ lực trong việc thiếp lập, xây dựng vùng nguyên liệu, tạo sự gắn bó mật thiết giữa doanh nghiệp và nhà nông tạo những chuỗi giá trị bền vững trong sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Nâng cao chất lượng lúa gạo trên cơ sở chọn giống và thiết lập các vùng nguyên liệu chất lượng cao, từng bước hình thành thương hiệu sản phẩm riêng của mình.

CÀ PHÊ

Cà phê Việt Nam có một năm thành công vượt bậc

Trong năm 2011, ngành cà phê Việt Nam đã có một năm thành công vượt bậc đáng tự hào. Cùng với xu hướng tăng giá chung của các mặt hàng nông sản, mặc dù khối lượng cà phê xuất khẩu hầu như không tăng nhưng giá trị xuất khẩu vẫn đạt được sự tăng trưởng kỷ lục. Khối lượng xuất khẩu năm 2011 chỉ đạt 1,2 triệu tấn và giá trị là 2,7 tỷ USD, xấp xỉ về lượng nhưng tăng tới 45,4% về giá trị so với năm ngoái.

Giá xuất khẩu trung bình đạt 2.200 USD/tấn, tăng 49 % so với năm 2010. Vị trí các thị trường tiêu thụ cà phê của Việt Nam không có sự thay đổi nhiều so với năm trước, đứng đầu vẫn là Hoa Kỳ (chiếm 11,7%), tiếp theo là Đức (chiếm 10,1%). Một số thị trường có sự tăng trưởng khá là Bỉ (tăng 92,8% về lượng và gấp gần 3 lần về giá trị), và Hà Lan (tăng 46,4% về lượng và gấp 2 lần về giá trị).

Đầu năm 2011, giá cà phê trong nước dao động liên tục nhưng thường xuyên trụ vững ở mức giá gần 50 triệu đồng/tấn. Đến gần cuối tháng 5, giá cà phê đã đánh dấu một mức kỷ lục mới 52 triệu đồng/tấn. Đây cũng là mức giá cao nhất trong năm cũng như trong lịch sử ngành cà phê Việt Nam.

Sang tháng 7, tháng 8, giá cà phê trong nước giảm xuống và dao động ở mức trên 40 triệu đồng/tấn. Tuy nhiên, theo đà giảm giá của các hàng hóa nguyên liệu trên thế giới và những dự báo về sản lượng cà phê Việt Nam đạt kỷ lục nên đến cuối tháng 10, giá cà phê bắt đầu lao dốc và đã để mất mốc 40 triệu đồng/tấn vào tháng cuối năm.

Mặc dù mức giá này đã mất đi 14.000 đồng/kg so với mức kỷ lục được lập hồi cuối tháng 5 nhưng năm 2011 vẫn là một năm rất thành công của ngành cà phê Việt Nam.

Việc giá cà phê trong nước vẫn luôn được giữ ở mức khá cao trong suốt một năm qua cho thấy người dân đã thực sự hiểu biết và nắm bắt được thông tin rất kịp thời về cung cầu trên thế giới. Những lúc giá cà phê trên thế giới rớt mạnh hay đầu vụ, người trồng cà phê đã biết găm hàng chờ giá lên chứ không bán ra ồ ạt như các năm trước.

Có nhiều ý kiến cho rằng, việc người dân trữ cà phê tại nhà có thể sẽ gặp rất nhiều rủi ro. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Nam Hải, Tổng giám đốc Công ty Cafecontrol cho rằng, việc người dân không bán hàng từ đầu vụ cho thấy, họ đã ý thức được rằng, việc trữ cà phê tại nhà sẽ giúp giá cà phê ổn định ở mức cao. Rủi ro có thể xảy ra, nhưng không nhiều, bởi nguồn cung cà phê trên thị trường thế giới đang ít hơn cầu, do đó, giá cà phê sẽ khó giảm nhiều trong thời gian tới.

(TTGCVT Tổng hợp)

Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông Tin Truyền Thông số :13-GP - TTĐT cấp ngày 18/1/2010.
Người chịu trách nhiệm chính : Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
Địa chỉ: 37B Nguyễn Bỉnh Khiêm - Hà Nội. 
Điện thoại: (04) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (04) 39762593 
Email :ttgcvattu@yahoo.com
Toàn c?nh thuong m?i di?n t? Vi?t Nam| Thi truong viet nam | Xe va the thao | Unlock DTDD | K?t qu? x? s? |