Năm 2011, thị trường hàng hóa diễn biến khó lường theo sự biến động của các sự kiện kinh tế và các yếu tố cơ bản về cung cầu. Một số mặt hàng tăng giá mạnh nhưng cũng không ít mặt hàng giá giảm sâu. Chỉ số Reuters/Jefferies CRB – chỉ số theo dõi biến động giá của 19 hàng hóa nguyên liệu thô chủ yếu giao dịch tại Mỹ - đã giảm 7% trong 12 tháng qua, so với mức tăng 15% của năm 2010.
Vàng
Một năm bão táp
Một năm qua, thế giới được chứng kiến nỗ lực “ôm” vàng “điên cuồng” của các ngân hàng Trung ương và cả người dân trước những biến cố của nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, biến động lên xuống thất thường của quý IV cho thấy, không phải lúc nào vàng cũng là kênh đầu tư an toàn.
Những diễn biến tiêu cực của nền kinh tế như cuộc khủng hoảng ở khu vực đồng tiền chung châu Âu hay bê bối trần nợ của Mỹ tạo cho giới đầu tư một cảm giác hết sức bất an. Không còn cách nào khác, họ lao vào mua vàng để tìm được bến đỗ an toàn cho đồng vốn của mình, theo đó, tạo nên một xu hướng nổi bật của vàng trong năm 2011 là “ôm nhiều nhất có thể”.
Tích cực nhất trong xu thế này phải nói đến là các ngân hàng Trung ương. Đây là lực lượng đã thay đổi từ vị thế người bán ròng trong suốt những năm 90 và 2000 sang những người mua ròng vào năm 2011. Các ngân hàng như Thái Lan, Nga, Bolivia, Trung Quốc và Hàn Quốc đều công bố những đợt mua vào kỷ lục.
Làn sóng này diễn ra mạnh nhất vào thời điểm quý III/11. Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), các ngân hàng Trung ương đã mua vào 148,4 tấn vàng trong quý này, lớn nhất kể từ năm 1971. Đây cũng là mức mua ròng mạnh nhất kể từ năm 2002, thời điểm hãng tư vấn vàng GFMS có trụ sở ở London, Anh, bắt đầu công bố các số liệu về thị trường vàng dựa trên các báo cáo của WGC.
Hội đồng Vàng Thế giới cũng đưa ra dự báo, lượng vàng mà các ngân hàng Trung ương mua trong cả năm 2011 có thể lên đến 450 tấn, mức cao nhất kể từ khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ cách đây 40 năm. Trong khi đó, con số này năm ngoái chỉ là 142 tấn.
Chuyên gia Artigas tại Mỹ nhận định, xu hướng mua ròng vàng của các ngân hàng Trung ương sẽ tiếp tục trong tương lai gần.
Hối hả gom vàng không kém các ngân hàng Trung ương là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, đặc biệt tại châu Á. Theo hãng tin CNBC, giới đầu tư của châu lục này liên tục gom mua vàng, bất chấp giá vàng đã tăng gấp gần ba lần trong 5 năm trở lại đây và biến động mạnh trong mấy tháng qua. Giới đầu tư châu Á có khuynh hướng tự nhiên nắm giữ vàng trong danh mục đầu tư. Giữ vàng vật chất đã là một truyền thống của người châu Á. Tuy nhiên, hiện nay, giới đầu tư châu Á đang tìm đến nhiều hơn với cổ phiếu vàng của các quỹ tín thác (ETF) như quỹ SPDR Gold Trust là một ví dụ.
Tuy nhiên, không phải lúc nào vàng cũng “lên đỉnh” như mong đợi của các nhà đầu tư đang ôm giữ vàng.
Ngày 3/1/2011, vàng bắt đầu ngày giao dịch đầu tiên trong năm với mức đóng cửa 1.415 USD/ounce. Giá kim loại quý bắt đầu leo thang vào tháng 3 và tháng 4 lên mức 1.434 và 1.466 USD/ounce khi xảy ra biến cố chính trị tại Trung Đông và Bắc Phi.
Sau đó, khi Ngân hàng Trung ương ECB quyết định tăng lãi suất lên 1,25%, tạo điều kiện cho đồng euro tăng so với USD, vàng tiếp tục bứt phá vượt mức 1.500 USD/ounce lên cận vùng 1.600 USD/ounce.
Sau một thời gian đi ngang và điều chỉnh giảm nhẹ, thị trường vàng đón nhận một luồng sinh khí mới đầy mạnh mẽ khi Mỹ trở thành tâm điểm của bất ổn tài chính thế giới do bê bối nâng trần nợ công.
Cả thế giới lao vào mua vàng khi S&P hạ bậc tín nhiệm trả nợ của nước Mỹ làm mất chất lượng AAA đã đạt được từ rất lâu. Làn sóng mua vàng gia tăng đẩy giá vàng tăng mạnh trong thời gian rất ngắn, hướng về ngưỡng 1.900 USD/ounce.
Thêm vào đó, vào thời điểm tháng 9, nỗi sợ hãi từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu bao trùm thế giới khiến giá vàng liên tiếp lập những kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử kim loại quý.
Ở khắp nơi, những phiên giao dịch của vàng là đề tài thường trực và giành được nhiều sự dõi theo nhất khi được nhìn nhận là bến đỗ an toàn cho các dòng vốn trước triển vọng mong manh của nền kinh tế. Đã có những nhận định về đỉnh cao 2.000 USD/ounce hoặc hơn thế nữa trong ngắn hạn khi giá vàng có lúc phá ngưỡng 1.923,7 USD/ounce vào ngày 6/9. Và tính đến thời điểm tháng 9 này, giá kim loại quý này đã tăng tới gần 40%.
Những tưởng thời kỳ hoàng kim của vàng đã đến, song đến thời điểm cuối tháng 9, hiện thực hóa đã trở thành một yếu tố xác định lại xu hướng của vàng.
Những quan ngại về nguy cơ bong bóng vàng có vẻ đã thức tỉnh các nhà đầu tư. Cho dù cuộc khủng hoảng chưa có tiền lệ ở châu Âu vẫn là tâm điểm của những nỗ lực giải cứu từ các lãnh đạo châu lục và thế giới nhưng giá vàng đã dần thoái lui với những chuỗi giao dịch khá phẳng lặng vài tháng trở lại đây.
Nhu cầu trú ẩn an toàn trở nên rất mờ nhạt khi trong thời gian qua vàng luôn biến động cùng chiều với các tài sản rủi ro. Thêm vào đó, không phá vỡ được quy luật khối lượng giao dịch thường thấp về cuối năm cũng như nhu cầu về một bản quyết toán tài chính sạch sẽ của nhiều tổ chức và công ty khi năm cũ sắp khép lại là một nguyên nhân khiến vàng rớt giá với tốc độ nhanh và đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng trong năm 2011 của mình với mức giá 1.606 USD/ounce.
Như vậy, kể từ khi lập đỉnh trên 1.920 USD/ounce hồi đầu tháng 9, giá vàng quay đầu trượt dốc và để mất hơn 300 USD/ounce, tức 16%. Những biến động không theo một xu hướng rõ ràng này có thể sẽ là một bài học quý giá cho giới đầu tư vàng trong năm 2012.
Đồng
Giá giảm 20% trong năm 2011
Năm 2011, do tác động bởi các cuộc đình công tại các nhà máy khai thác, chế biến đồng lớn trên thế giới, thì sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ cũng như những tiến triển trong việc giải quyết nợ công tại châu Âu cũng có những tác động trực tiếp tới nhu cầu tiêu thụ các kim loại cơ bản và nhanh chóng ảnh hưởng tới diễn biến của giá đồng trên thị trường thế giới trong năm 2011.
Thêm vào đó đường dẫn nguồn cung cấp đồng bị thắt chặt do những diễn biến xấu của nền kinh tế toàn cầu, sự phục hồi chậm chạp, thất nghiệp ở mức cao của kinh tế Mỹ, khủng hoảng nợ công tại châu Âu, lạm phát leo thang tại nhiều quốc gia trên thế giới. Kinh tế, tài chính bất ổn định đã làm nảy sinh nhiều cuộc đình công tại các mỏ khai thác quặng trên thế giới. Mặc dù, cuộc đình công tại mỏ đồng Freeport-McMoRan's Peruvian của Peru và Cerro Verde đã kết thúc sau khi kéo dài gần 2 tháng nhưng công nhân vẫn giảm tác nghiệp tại các mỏ đồng này. Những cuộc đình công này đã làm ảnh hưởng lớn tới nguồn cung đồng trên thế giới trong năm 2011. Tại mỏ đồng khổng lồ Collahuasi của Chile - mỏ đồng lớn thứ ba thế giới, công nhân đã giảm tác nghiệp khiến nhà máy này phải bổ sung thêm công suất tại các nhà máy khác của mỏ đồng này để đảm bảo sản lượng không bị ảnh hưởng. Trong khi đó, cuộc đình công tại mỏ đồng Grasberg của hãng Freeport tại Indonesia đã hạn chế xuất khẩu quặng đồng từ nước này, giảm 35% trong năm 2011.
Vì vậy, trong vòng 1 năm, giá đồng giảm 20% từ mức đỉnh 10.190 USD/tấn thiết lập hồi tháng 2, giá đồng cuối năm đã mất 25% và chỉ còn 7.638 USD/tấn, hướng tới năm giảm đầu tiên trong 3 năm. Tuy nhiên, cuối năm giá đồng giao dịch trên sàn giao dịch kim loại London khá vững giá nhờ được hỗ trợ từ chỉ số niềm tin tiêu dùng và doanh số bán lẻ của Mỹ được cải thiện, tuy nhiên những lo ngại vẫn còn về khả năng của châu Âu để giải quyết khủng hoảng nợ đã ngăn cản đồng tiếp tục tăng giá. Tại Mỹ, đồng kỳ hạn tháng 12 đóng cửa tăng 1,55% ở mức 3,370 USD/lb. Đồng giao tháng 3 tăng 1,90% ở mức 3.3905 USD/lb.
Tuy nhiên, tình hình giải quyết khủng hoảng nợ công tại châu Âu đang có những tiến triển tốt khi ngoài các quốc gia thuộc châu Âu thì các quốc gia khác cũng đã bắt tay vào hỗ trợ cho châu Âu trong việc giải quyết khủng hoảng. Trật tự tài chính tại châu Âu sẽ được thiết lập trở lại sau sự nỗ lực của các nền kinh tế lớn trong khu vực như Đức, Pháp và Italia khi trong tháng 12/2011, các quốc gia này trình đề xuất thay Hiệp ước Mastricht (Hiệp ước châu Âu ký ngày 7/2/1992 và có hiệu lực từ ngày 1/11/1993 dưới thời uỷ ban Delors). Như vậy, khủng hoảng nợ công tại châu Âu sẽ từng bước được giải quyết.
Do đó, triển vọng của doanh nghiệp khai thác và sản xuất quặng đồng trong năm tới nhìn chung là rất sáng sủa. Mặc dù chi phí đầu vào cao nhưng với giá bán kim loại hiện đang đạt mức cao thì kỳ vọng doanh thu cho các doanh nghiệp kịp đưa ra thị trường trong năm 2012 sẽ đem lại những khoản lợi nhuận rất đáng kể. Tuy nhiên, quặng đồng sẽ chịu một mức thuế suất cao kỷ lục, lên đến 30%. Mặc dù vậy, với nhu cầu nội địa lớn và nguồn cung vẫn đang còn rất hạn chế, thì việc tiêu thụ nhóm sản phẩm này không quá khó khăn.
Quặng sắt
Giá giảm trên 10% trong năm 2011
Tình trạng lạm phát xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới, kéo theo giá nguyên liệu sản xuất thép như quặng, than, xăng dầu… đều biến động mạnh theo chiều hướng tăng. Nước xuất khẩu quặng, than lớn nhất thế giới là Australia gặp lũ lụt (ở khu vực mỏ phía tây Australia) làm cho giá quặng tăng cao. Thêm vào đó, động đất và sóng thần ở Nhật Bản - nước có nền công nghiệp thép lớn của thế giới - cũng tác động mạnh tới thị trường thép ở Việt Nam. Chính bởi vậy, giá quặng sắt trên thị trường thế giới quý 1/2011 tăng mạnh so với cuối năm 2010.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu kìm hãm nhu cầu nhiên liệu thô trong khi kinh tế Trung Quốc ước tăng trưởng 8,5%, so với 10,4% trong năm 2010 là những yếu tố kìm hãm đà tăng giá quặng. Giá bắt đầu giảm trong 2 quý cuối năm 2011. Cụ thể, tuần cuối tháng 10/2011 giá quặng giao ngay thấp hơn nhiều so với giá hợp đồng kí theo quý, khiến cho nhiều nhà sản xuất thép Trung Quốc muốn đàm phán lại hợp đồng.Các nhà máy thép Trung Quốc bắt đầu cắt giảm sản xuất trong điều kiện tiếp cận vốn khó khăn và thị trường bất động sản đóng băng làm ảnh hưởng đến đầu ra của ngành thép và kéo giảm nhu cầu đầu vào là quặng sắt.
Đến tuần giữa tháng 11/2011 giá quặng tăng trong suốt 12 phiên với mức tăng lên đến 25%, trước đó giá đã giảm 31% trong tháng 10/2011. Giá quặng giao ngay hàm lượng 62% sắt đã tăng gần 6%, lên 146,3 USD/tấn - mức cao nhất kể từ hôm 19/10. Trong tháng 10/2011, khi giá quặng xuống thấp, các thương nhân Trung Quốc tận dụng thu mua bổ sung vào kho dự trữ đang cạn kiệt và lại đẩy giá đi lên.
Bước sang tuần cuối tháng 11/2011 giá quặng đã giảm 2 ngày cuối tháng 11/2011 do nhu cầu từ các nhà máy thép Trung Quốc bắt đầu chậm lại. Các thương nhân nước này cho biết không cần thiết phải vội vàng mua vào quặng sắt trong bối cảnh nhu cầu thép còn yếu hiện nay. Giá quặng sắt giao ngay hàm lượng 62% sắt ngày 26/11/2011 giảm 0,5%, xuống 146,6 USD/tấn. Giá quặng Ấn Độ hàm lượng 63,5/63% sắt giảm 2 USD, xuống 148 - 150 USD/tấn.
Hoạt động sản xuất của Trung Quốc trong tháng 11 xuống thấp nhất 32 tháng đã tác động tiêu cực đến thị trường hàng hóa nguyên liệu, trong đó có giá vật liệu xây dựng.
Hiện giá quặng sắt trên thế giới chủ yếu bị chi phối bởi 3 nhà khai thác mỏ lớn của thế giới là Rio Tinto, BHP Billiton và Xstrata, có độc quyền khoảng 70% các giao dịch thương mại về quặng sắt toàn cầu.
Như vậy, tổng kết trong quý 4/2011 nguồn cung quặng sắt trên thế giới tăng nhẹ so quý 3/2011 do các nhà sản xuất lớn trên thế giới tiếp tục tăng cường đầu tư mở rộng công suất.
Theo báo cáo của Reuters, Tập đoàn Vale của Brazil đang duy trì mục tiêu sản lượng quặng là 310 triệu tấn trong năm 2011. Mỏ quặng sắt lớn thứ 2 thế giới Rio Tinto của Úc đang đẩy nhanh kế hoạch tăng công suất thêm 50%, lên 333 triệu tấn vào năm 2015.
Dự kiến trong năm 2012, nhu cầu về quặng sắt trên thế giới sẽ tiếp tục tăng. Đặc biệt nhu cầu quặng sắt của Trung Quốc sẽ hồi phục. Fortescue – công ty khai thác khoáng sản của Australia (có sản lượng khai thác quặng sắt lớn thứ 3 nước này) dự đoán, đến năm 2015, mức nhập khẩu quặng sắt hàng năm vào Trung Quốc sẽ tăng 60% so với năm 2010, lên đến 1 tỷ tấn.
Mặt khác, theo báo cáo, Rio Tinto, mỏ quặng sắt lớn thứ 2 thế giới nói rằng, Trung quốc - thị trường quặng sắt lớn nhất thế giới, có thể tăng mạnh trở lại vì cho đến nay, nhu cầu quặng sắt của họ chưa có dấu hiệu yếu đi. Một quan chức Rio Tinto nói, nợ công của Trung quốc vẫn trong vòng kiểm soát mặc dù có rủi ro trong hệ thống ngân hàng chính thức cũng như phi chính thức. Theo báo cáo trên, Rio Tinto đang đẩy nhanh kế hoạch tăng công suất thêm 50%, lên 333 triệu tấn vào năm 2015.
Thép
Giá giảm, giao dịch ảm đạm
Theo thông tin từ Hiệp hội thép thế giới, sản lượng thép của 64 quốc gia thuộc Hiệp hội sản lượng thép thô toàn cầu năm 2011 là trên 100 triệu tấn, tăng không đáng kể so với năm trước.
Thêm vào đó, sản lượng thép thô hàng ngày trên thế giới chỉ đạt mức thấp trong năm vì sản lượng thép của Trung Quốc giảm mạnh.
Giá thép thế giới tăng liên tục sau quý đầu tiên của năm 2011. Những xung đột chính trị và bạo lực nổ ra ở các nước Trung Đông và Bắc Phi, đặc biệt là thảm họa động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật Bản khiến nguồn cung bị hạn chế. Thêm vào đó, trào lưu việc tăng mua để dự trữ các mặt hàng chiến lược, trong đó có thép, của một số nước đã đẩy giá thép vọt lên. Theo đó, giá phôi thép thế giới quý 1/2011 tăng mạnh do nguồn cung hạn chế. Giá phôi thị trường Đông Nam Á chào bán cho Việt Nam tháng 3 tăng 5 USD/T so với tháng 2 và tăng 60÷65 USD/T so với tháng 12/2010 (+ 10%). Giá phế thép tăng khá mạnh trong tháng 1, song từ tháng 2 đã giảm dần. Loại thép HSM ½ 80:20 loại băm chỉ còn chào giá 465USD/CFR Đông Nam Á.
Tuy nhiên, giá thép dẹt trên thị trường thế giới cũng như khu vực sang đầu tháng 3 đã giảm nhanh do sức mua kém, mức giảm 30 - 70 USD/T so với tháng 2.
Bước sang quý 2, 3 giá thép bắt đầu bước vào giai đoạn đi xuống, không khí giao dịch trầm lắng do những tín hiệu kinh tế bi quan liên tục được phát đi.
Giá thép thế giới tiếp tục trong xu hướng giảm chung trong quí IV/2011 do nhu cầu thấp và người mua tiếp tục giữ tâm lí chờ đợi giá giảm tiếp trước khi có các đơn đặt hàng mới. Trong khi đó, áp lực giải tỏa hàng tồn kho khiến không ít nhà sản xuất và xuất khẩu thép tại các khu vực khác nhau trên thế giới buộc phải thông báo giảm giá bán.
Với xu hướng cung-cầu như phân tích ở trên, cộng thêm với việc một số nhà sản xuất đã bắt đầu giảm giá chào bán thép trong quí I/2012, dự báo giá thép thế giới trong quí 1/2012 sẽ vẫn ở mức thấp và sẽ chỉ phục hồi nhẹ vào nửa sau của quí.
Ngoài ra, nguồn cung thép thế giới trong năm 2012 sẽ giảm nhẹ do nhiều nhà máy sản xuất thép trên thế giới cắt giảm sản lượng do thị trường thép ảm đạm. Tuy nhiên, cung sẽ vẫn vượt cầu ít nhất là trong nửa đầu quí.
Dầu mỏ: giá biến động mạnh nhất trong các loại hàng hoá
Năm 2011 là một trong những năm giá dầu thô thế giới biến động mạnh nhất. Cùng với tình trạng lạm phát gia tăng, tình trạng nợ công đang khủng hoảng và những đòn nặng nề mà thảm họa thiên nhiên giáng xuống một số khu vực, sự diễn biến phức tạp của thị trường dầu càng làm cho kinh tế thế giới khó khăn thêm.
Giới chuyên gia cho rằng năm nay giá dầu thô thế giới biến động mạnh nhất do “sức khoẻ” của các nền kinh tế không ổn định khiến cho nhu cầu về dầu mỏ tăng giảm thất thường. Ngoài ra, nguyên nhân địa chính trị như tình hình Trung Đông, Bắc Phi gây tác động mạnh đến nguồn cung dầu. Diễn biến của cuộc chiến ở Libya đã làm cho thị trường dầu mỏ trồi sụt khác thường.
Libya, thành viên Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ Thế giới (OPEC), là một trong những nhà cung cấp dầu mỏ quan trọng và khi hoạt động sản xuất, xuất khẩu dầu mỏ của nước này được phục hồi, thị trường dầu thế giới sẽ được bổ sung một nguồn rất đáng kể. Trong số 14 thị trường xuất khẩu dầu thô của Libya, có tới 11 địa chỉ ở châu Âu. Riêng với Italy, Ireland và Áo, nguồn cung từ Libya chiếm hơn 20% tổng khối lượng dầu thô nhập khẩu của ba nước này. Trước khi bùng nổ cuộc chiến, 85% sản lượng dầu mỏ Libya được xuất sang thị trường châu Âu.
Trên thế giới, hai trung tâm kinh tế Mỹ và châu Âu là hai nơi tiêu thụ dầu mỏ hàng đầu. Theo những đánh giá khác nhau, Mỹ chiếm gần 22% tổng mức tiêu thụ dầu mỏ toàn thế giới. Châu Âu và Mỹ mỗi ngày nhập khẩu khoảng 19,5 triệu thùng dầu thô, chiếm 1/2 khối lượng nhập khẩu dầu toàn cầu. Kinh tế Mỹ vẫn phục hồi chậm chạp từ cuộc suy thoái năm 2008-2009 trong khi kinh tế khu vực châu Âu đang đương đầu với nhiều rủi ro. Thêm vào đó, có một diễn biến đáng chú ý là hồi tháng 3/11, Tổng thống Mỹ Barack Obama công bố chiến lược cắt giảm 1/3 mức tiêu thụ dầu nhập khẩu trong vòng 10 năm tới và tăng cường khai thác dầu trong nước, mở rộng việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Những yếu tố đó khiến cho nhu cầu dầu mỏ của hai trung tâm kinh tế này giảm sút, tác động khá rõ đến thị trường dầu.
Mỹ và các nền kinh tế tiêu thụ nhiều dầu mỏ luôn tìm cách làm cho giá dầu hạ nhiệt. Hồi cuối tháng 6/2011, ở thời điểm giá dầu lên trên 100 USD/thùng (có thời điểm trong tháng 4/2011 dầu đã có giá trên 120 USD/thùng), Mỹ và 27 nước khác đã thoả thuận tung ra thị trường 60 triệu thùng dầu từ kho dự trữ chiến lược, làm cho giá dầu tạm thời hạ xuống dưới 90 USD/thùng, đạt mức thấp nhất trong 4 tháng liên tiếp lúc đó. Giá dầu ngọt nhẹ (hay còn gọi là dầu chuẩn Tây Texas) đạt mức đỉnh điểm gần 114 USD/thùng vào cuối tháng 4/2011, so với mức giá tháng 10/11 là khoảng 90 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu Brent Biển Bắc cũng đã giảm khoảng 13% kể từ đầu tháng 5/2011. Diễn biến chính trị phức tạp tại các khu vực sản xuất dầu lửa lớn đã hỗ trợ giá dầu dao động quang ngưỡng 100 USD/thùng trong 2 tháng cuối năm 2011.
Lượng dầu được tung ra để ứng cứu này chiếm chưa đến 4% dự trữ chiến lược và thực ra cũng chỉ bằng mức tiêu thụ trong một ngày đêm của toàn thế giới, nhưng nó đã có tác dụng tâm lý quan trọng để hạ nhiệt thị trường dầu mỏ. Đây là lần thứ ba trong lịch sử các nước thành viên Tổ chức Năng lượng Thế giới (IEA) sử dụng đến kho dầu dự trữ để can thiệp thị trường - lần thứ nhất là trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và lần thứ hai vào năm 2005, khi cơn bão Katrina phá hỏng nhiều giàn khoan và các đường ống dẫn dầu ở vùng vịnh Mexico.
Ngoài Mỹ và khu vực châu Âu, những nền kinh tế lớn mới nổi tiêu thụ nhiều dầu như Trung Quốc và Brazil cũng cho thấy các dấu hiệu tăng trưởng chậm lại. Điều đó đồng nghĩa với việc nhu cầu dầu mỏ của họ không tăng cao như đã từng dự báo. Nhưng nhu cầu dầu mỏ gần như chắc chắn sẽ tăng tại những quốc gia đã và đang cắt giảm việc khai thác điện hạt nhân như Đức hoặc Nhật Bản sau thảm hoạ động đất sóng thần dẫn đến hư hại nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1.
Về nhu cầu dầu mỏ của các nước phương Tây và của thế giới nói chung, có nhiều đánh giá dự báo khác nhau. Đáng chú ý nhất là dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) vào cuối năm 2010, trong một báo cáo, IEA đã dự báo nhu cầu dầu mỏ của thế giới tăng lên trong thập kỷ này và đến năm 2035 sẽ đạt 99 triệu thùng/ngày, nhiều hơn 15 triệu thùng/ngày so với năm 2009. Riêng nhu cầu dầu mỏ của năm 2011 thì hồi tháng 12/2010 IEA đã dự báo con số 88,8 triệu thùng/ngày, tăng 1,4 triệu thùng/ngày so với năm 2010.
Còn về sản xuất, cũng có những đánh giá dự báo khác nhau. Theo IEA, sản lượng dầu của thế giới sẽ ổn định vào năm 2020, ở mức 68-69 triệu thùng/ngày và sẽ không bao giờ đạt được mức cao kỷ lục của năm 2006 là 70 triệu thùng/ngày. Mức chênh lệch giữa cung và cầu dầu mỏ của thế giới sẽ được mặt hàng khí đốt tự nhiên bù đắp.
Năm 2009, Nga chiếm vị trí số 1 về sản xuất dầu mỏ với 10 triệu thùng/ngày. Nhưng theo dự báo của IEA, đến năm 2030, Arập Xêút sẽ soán ngôi vị của Nga, đạt 14,6 triệu thùng/ ngày, tăng nhiều so với mức 9,6 triệu thùng/ngày của năm 2009. Iraq hiện đang khai thác 2,7 triệu thùng/ngày nhưng sẽ gia tăng sản xuất và xuất khẩu. Theo dự báo, sản lượng dầu của Iraq đến năm 2015 sẽ ngang bằng Iran, nước hiện nay đang khai thác 4 triệu thùng/ngày.
Tuy vậy, triển vọng sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ phụ thuộc rất nhiều vào tình hình chính trị-an ninh, nhất là tại các nước Trung Đông-Châu Phi giàu dầu mỏ nhưng lại đầy rủi ro bất ổn. Và đương nhiên, ổn định nguồn cung có ý nghĩa hàng đầu đối với thị trường, đối với giá của mặt hàng chiến lược này.
Cao su
Giá cao su trong năm 2011 có nhiều biến động. Giá đạt mức cao kỷ lục vào tháng 2 (4.567 USD/tấn) nhưng sau đó sụt giảm mạnh trong tháng 3 do ảnh hưởng của thiên tai, động đất tại Nhật Bản làm ngưng trệ việc sản xuất ô-tô và lốp xe. Giá phục hồi nhẹ từ tháng 4 đến tháng 6 nhưng sau đó giảm dần cho đến tháng 11 chỉ còn 2.985 USD/tấn do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp khi nền kinh tế suy yếu tại châu Âu vì khủng hoảng nợ công và lũ lụt tại Thái Lan làm một số nhà máy tạm ngưng sản xuất. Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su hàng đầu để sản xuất lốp xe xuất khẩu cũng chịu ảnh hưởng của nền kinh tế suy yếu tại châu Âu và thế giới, đã giảm nhập khẩu cao su trong quý 3 làm giá cao su giảm nhanh. Trong giai đoạn cuối năm và có thể sang 2012, giá cao su thiên nhiên chỉ ở mức thấp nếu tình hình kinh tế châu Âu và thế giới không được cải thiện.
|
Ngày lấy giá
|
Cao su su RSS tại Tocom
|
Cao su RSS3 tại Thái Lan
|
|
12/1/11
|
262.3
|
106.2
|
|
12/2/11
|
259.2
|
105.2
|
|
12/5/11
|
261.9
|
105.2
|
|
12/6/11
|
262
|
105.2
|
|
12/7/11
|
268.4
|
106.7
|
|
12/8/11
|
272.1
|
108.9
|
|
12/9/11
|
260.3
|
108.9
|
|
12/12/11
|
263.4
|
108.9
|
|
12/13/11
|
257
|
106.15
|
|
12/14/11
|
260
|
106.15
|
|
12/15/11
|
252
|
105.15
|
|
12/16/11
|
253.4
|
105.15
|
|
12/19/11
|
250
|
105.15
|
Theo nguồn tin Business News, các chuyên gia quốc tế dự báo trong 2 năm tới, nhu cầu cao su thiên nhiên sẽ không tăng, song sau đó thị trường này sẽ bùng nổ.
Nhu cầu cao su thiên nhiên toàn cầu sẽ tăng 1,1 triệu tấn trong năm 2012, và từ 2015 sẽ tăng 3,4 triệu tấn mỗi năm.
Som Chai Charnnarongkul, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết Châu Á sản xuất 93,1% tổng sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu, nhưng chỉ tiêu thụ 65,5% trong các ngành công nghiệp.
Tiêu thụ tăng trong tương lai sẽ tập trung vào các nước Trung Quốc và Ấn Độ, nơi có dân số đông, nhu cầu lớn và thị trường trong nước ổn định.
Djoko Said Damard-ijiati, Tổng thư ký Hiệp hội các nước Sản xuất Cao su Thiên nhiên (ANRPC) cho rằng triển vọng sản lượng cao su thiên nhiên rất tươi sáng, song cần phải chuẩn bị kế hoạch sẵn sàng cho sự hồi phục kinh tế, khi nhu cầu tăng mạnh.
Chandra cho biết sản lượng cao su thiên nhiên thế giới trong năm 2011 ước đạt khoảng 11,55-11,66 triệu tấn trong khi nhu cầu về mặt hàng này sẽ là 11,40 triệu tấn.
Giá cao su thiên nhiên thế giới năm 2011 giữ trung bình ở mức 4 USD/kg được dự đoán sẽ duy trì mức cao hơn trong khoảng từ 4 USD/kg – 4,5 USD/kg vào năm 2012.
Theo ông TB Chandra, thuộc Hiệp hội các doanh nhân cao su Indonesia (Gapkindo), giá cao su sẽ phụ thuộc vào lượng cung cấp, nhu cầu, điều kiện thời tiết và tình hình kinh tế tác động đến thị trường.
Ông cho biết khu vực Đông Á sẽ chiếm khoảng 70% nhu cầu cao su toàn cầu do đó nhu cầu thế giới sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi kinh tế đang chậm lại ở châu Âu và Hoa Kỳ.
Cụ thể, nhu cầu tại các nước châu Á như Trung Quốc và Ấn Độ được dự kiến sẽ vẫn ở mức cao.
Việc sử dụng ngày càng nhiều mặt hàng thay thế là cao su tổng hợp là một trong những yếu tố kéo giảm nhu cầu về cao su tự nhiên.
Năm 2012, giá cao su thiên nhiên có thể giảm 33% – mức giảm lớn nhất kể từ năm 2008 do nhu cầu chậm chạp từ Trung Quốc – nước tiêu thụ lớn nhất thế giới, theo ông Lizhi Tang – giám đốc công ty Okachi khu vực Trung Quốc.
Kinh tế có dấu hiệu chậm lại và doanh số bán ô tô giảm mạnh là nguyên nhân kéo giảm nhu cầu về cao su thiên nhiên của nước này. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc dự kiến chỉ đạt 8,5% trong năm tới – thấp nhất trong 11 năm.
Năm nay, theo số liệu của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc, tăng trưởng doanh số các phương tiện giao thông nước này ước chậm nhất 13 năm. Điều này do tác động từ lạm phát, lãi suất cao và chính phủ kết thúc chương trình kích cầu mua sắm kéo dài trong 2 năm.
Việc sử dụng ngày càng nhiều mặt hàng thay thế như cao su tổng hợp cũng giảm nhu cầu về cao su tự nhiên. Trong năm 2011, ước việc sử dụng cao su tổng hợp có thể làm giảm tiêu thụ khoảng 545.000 tấn cao su tự nhiên.
Theo số liệu của Okachi, dự trữ cao su tại các kho ngoại quan tại Thanh Đảo – trung tâm giao dịch cao su giao ngay lớn nhất của Trung Quốc lên mức kỉ lục do nhu cầu thấp của nước này.
Các yếu tố như nguồn cung tại các nước sản xuất lớn như Thái Lan tăng lên, khủng hoảng nợ công ngày càng xấu đi và kinh tế Mỹ chậm lại cũng sẽ gây áp lực cho giá mặt hàng này trong năm sau.
Bông
Thị trường chứng kiến một năm giá đầy biến động
Năm 2011, thị trường bông thế giới chứng kiến một năm giá bông đầy biến động với những đợt tăng giảm thất thường gây nhiều bất lợi cho người tiêu thụ bông. Cụ thể, giá bông tăng liên tục trong quí I cùng với hiện tượng khan hiếm nguồn cung đã khiến nhiều doanh nghiệp phải mua bông ở mức giá cao chưa từng có trong lịch sử ngành bông thế giới tới 5 USD/kg, trong khi trước đây chỉ ở mức 2-3 USD/kg. Sang quí II, giá bông giảm mạnh tới 50%. Những tháng cuối năm, giá dao động quanh mức 2,5 USD/kg. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, cuối vụ mùa bông 2011/2012 sẽ có khoảng 2,9 triệu kiện bông được bổ sung vào tổng lượng tồn kho trên toàn thế giới, việc này được đánh giá là một trong những nhân tố thúc đẩy chiều hướng giảm giá bông. Lượng tồn kho toàn thế giới tăng vào tháng 10/2011 là hệ quả của việc điều chỉnh tồn kho cuối vụ mùa 2010/2011 lên 896.000 kiện và dự kiến tiêu thụ giảm 844.000 kiện. Tổng quan nhu cầu giảm, những diễn biến khó khăn và phức tạp trong nền kinh tế vĩ mô ở các thị trường tiêu dùng như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, là nhân tố tiếp theo hạn chế đà tăng giá mạnh mẽ và có thể hy vọng rằng giá bông sẽ không biến động mạnh trong năm 2012.
Đường
Giá cuối năm 2011 không đổi so với cuối năm 2010
Giá đường thô trên thị trường giao dịch ICE ở New York cuối năm 2011 ở quanh 24 cent/lb, hầu như không đổi so với cuối năm 2010, mặc dù trải qua nhiều biến động trong thời gian qua.
Hai tháng đầu năm giá đường tăng mạnh do những lo ngại về sản xuất đường của thế giới không đáp ứng đủ nhu cầu và dự trữ sụt giảm. Phiên giao dịch ngày 2/2, giá đường thô tăng 36,08 cents/pound tại New York, mức giá cao nhất kể từ 1980.
Nguồn cung từ Ấn Độ và Thái Lan tăng cao khiến giá đường thế giới đi xuống trong tháng 3,4. Trong tuần kết thúc ngày 11/3, giá đường thô đã giảm 3,9% xuống còn 28,71 cent/lb. Đóng cửa phiên 14/4, giá đường thô giao tháng 7 mất 0,59 cent, tương đương 2,5% còn 23,06 cent/lb.
Tháng 6/11 giá đường thế giới có chuỗi tăng dài nhất kể từ tháng 11 năm ngoái vì cầu cao trong khi cung hạn chế ở Braxin - quốc gia sản xuất đường lớn nhất thế giới. Nhu cầu đường trắng ở thế giới Hồi giáo trong khi đó tăng mạnh trước tháng ăn chay Ramada. Braxin dự kiến sẽ chở 735.570 tấn đường thô trong giai đoạn từ 1/6 đến 15/7 tới các nước khu vực này. Đóng cửa phiên 3/6, giá đường thô giao tháng 7 tại New York tăng 1,8% lên 23,95 cent/lb.
Thông tin nguồn cung thắt chặt khiến giá đường tiếp tục giao dịch ở mức cao quanh 28 - 29 cent/lb trong các tháng 7,8,9. Hôm 13/8 giá đường thô kỳ hạn tại New York ở mức 27,84 UScent/lb.
Quý 4/2011, giá đường lại giảm nhẹ về vùng biến động giá 24 cent/lb do lo ngại Ấn Độ, nước sản xuất đường lớn thứ hai thế giới, cho phép xuất khẩu bổ sung. Ngày 23/11, đường thô giao tháng Ba giảm 1% xuống 23,21 cent/lb trên Sở giao dịch tương lai ICE Mỹ tại New York.
Trong báo cáo gần đây Credit Suisse Group AG cũng đã giảm dự báo giá đường 3 tháng và 12 tháng sắp tới, theo đó giá đường chỉ còn 26 cents/pound so với dự báo trước đây là 32-33 cents/pound. Theo các báo cáo đã được phát hành bởi các tổ chức mía đường hàng đầu thế giới như ISO, Kingsman, Czarnikow… mặc dù có khác nhau song điểm chung dễ nhận thấy là thị trường đường thế giới sẽ thặng dư trong vụ mùa 2011-2012.
Giá đường thế giới hiện nay chịu tác động bởi một số ít quốc gia xuất - nhập khẩu đường hàng đầu thế giới, đặc biệt là Brazil chiếm tới 50% lượng đường thương mại thế giới. Do đó bất kỳ biến động nào liên quan đến tình hình sản xuất đường tại quốc gia này cũng là tác nhân gây biến động giá đường thế giới.
Mặc dù là quốc gia sản xuất đường lớn nhất thế giới, song Brazil đang phải đối mặt với nhiều các khó khăn liên quan đến tuổi đời cây mía đã quá già trong khi lớp mía mới chưa phát triển kịp.
Bên cạnh đó việc đồng real của Brazil đang liên tục lên giá mạnh so với USD đã khiến chi phí sản xuất đường tại Brazil trở nên đắt đỏ hơn bao giờ hết, đây sẽ là yếu tố then chốt quyết định diễn biến giá đường trong thời điểm hiện tại và tương lai dài hạn sắp tới.
Bên cạnh đó, những diễn biến mới nhất liên quan đến thời tiết tại khu vực châu Á có thể sẽ sớm tác động đến kỳ vọng của các nhà phân tích và giới đầu cơ quốc tế trong thời gian sắp tới. Những cơn bão lớn liên tiếp tàn phá và gây ảnh hưởng lớn đến các quốc gia tại khu vực châu Á như Philippines, Việt Nam và Thái Lan trong khi vụ mùa 2011-2012 tại khu vực Đông Nam Á sẽ sớm bắt đầu từ tháng 11 đang dấy lên lo ngại ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng mía đường tại các quốc gia này.
Tại Thái Lan, quốc gia xuất khẩu đường lớn thứ 2 thế giới, đồng thời là nguồn cung cấp đường chủ yếu cho các quốc gia châu Á, đang phải đối mặt với tình trạng lũ lụt trầm trọng nhất trong nhiều năm qua, đặc biệt tại khu vực trung tâm và phía Bắc, 2 vùng trồng mía lớn của quốc gia này, gây thiệt hại tới khoảng 80.000ha mía, tương đương hơn 5,5 triệu tấn mía nguyên liệu bị ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng.
Với những phân tích ở trên, dự báo giá đường thế giới thời gian sắp tới sẽ được hỗ trợ tại vùng 25-27 cents/pound, nếu không có những thông tin tích cực liên quan đến việc gia tăng sản lượng đường tại các quốc gia sản xuất đường hàng đầu khác như Brazil, Ấn Độ, Australia hay Trung Quốc và những thiệt hại do mưa lũ gây ra tại Thái Lan sẽ là yếu tố hỗ trợ giá đường thế giới phục hồi.
Phân bón
Bức tranh ảm đạm
+ Thị trường urê
Năm 2011 là một năm không ổn định cho thị trường phân bón urê.
Nửa đầu năm đã cho thấy xu hướng nhu cầu đang quay trở lại mức trước khủng hoảng. Điều này, cùng với kỳ vọng nhu cầu tăng từ Pakistan - nước đã thất bại trong nỗ lực tự cung tự cấp phân bón urê - đóng góp mạnh mẽ vào xu hướng giá urê tăng trong quý hai. Từ tháng 4 tới tháng 6, giá phân urê Yuzhny tăng từ 315 đến 510 USD/tấn (FOB).
Quý III là quý đầy biến động khi mà đầu quý giá phân urê điều chỉnh giảm xuống còn khoảng 460 USD/tấn (FOB) nhưng sau đó lại tăng lên đến mức 500 USD/tấn (FOB), tiếp sau đó là giai đoạn điều chỉnh giá xuống.
Bước vào quý IV, một sự thiếu hụt nhu cầu đã bộc lộ qua sự trượt giá urê. Giá urê Yuzhny chuẩn tháng 12/2011 ở mức 315-330 USD/tấn (243-254 GBP/tấn) FOB, giảm 170 USD/tấn kể từ đầu tháng 10 và thấp hơn khoảng 60 USD /tấn so với thời điểm này năm 2010.
Năm 2012, giá urê khó có thể giảm xuống đến mức thấp 205 USD/tấn FOB như thời kỳ sau khủng hoảng vào tháng 12 năm 2008 và triển vọng trong ngắn hạn cho việc cải thiện giá urê là không mấy thuận lợi. Trên thực tế, nhu cầu phân bón cho vụ xuân ở bắc bán cầu sẽ đóng vai trò lớn nhất trong việc xác định giá vào cuối quý I và cả trong quý II năm 2012.
Công ty phân bón Qatar (Qafco) đã lên kế hoạch đưa vào hoạt động nhà máy urê Qafco V với công suất 1,3 triệu tấn/năm trong tháng 1 năm 2012; và sau đó vào quý IV năm 2012 sẽ đưa thêm nhà máy Qafco VI có công suất 1,3 triệu tấn urê/năm vào hoạt động. Ngoài ra, tại Algeria, Công ty Sorfert cũng sẽ đưa một nhà máy có công suất 1,1-1,2 triệu tấn urê/ năm vào hoạt động trong quý I năm 2012; tại Ai Cập, Công ty MOPCO cũng đã có kế hoạch sẽ đưa hai nhà máy với công suất mỗi nhà máy là 660.000 tấn urê/ năm vào hoạt động trong nửa cuối năm 2012. Công suất urê bổ sung cũng được tăng thêm do các nhà máy tại Việt Nam và Venezuela sẽ đưa vào sản xuất trong năm 2012. Mặc dù có thể có một số chậm trễ tại các dự án này, nhưng rõ ràng rằng thị trường urê đang chuyển vào tình trạng thừa cung trong năm 2012.
+Thị trường DAP
Thị trường phốt phát cũng chịu áp lực giảm giá do sức ép của việc thiếu nhu cầu vào cuối năm và triển vọng người tiêu dùng đang trì hoãn mua hàng ít nhất cho đến cuối tháng 2/2012.
Tại Vịnh Mỹ, giá chuẩn phân DAP cuối năm 2011 xuất khẩu giảm xuống còn 520-540 USD/tấn (FOB Tampa), giảm 110 USD/tấn so với mức giá đỉnh trong năm 2011.
Giá phân phốt phát đã được hỗ trợ thông qua hầu hết các hợp đồng kỳ hạn trong quý IV-2011 và việc bán hàng giao ngay vào thị trường Ấn Độ, cũng như nhu cầu mới nổi tại khu vực châu Mỹ Latinh. Tuy nhiên, động lực thị trường đã không được tập trung hoặc lan tỏa tới khu vực Đông Nam châu Á hoặc châu Âu, cả hai khu vực này đều đã cho thấy họ ít quan tâm đến việc mua hàng. Lượng bán hàng giao ngay trở nên rất ít và khối lượng hàng hóa đã bị thu nhỏ lại phản ánh tình trạng nhập khẩu kiểu "giật gấu vá vai" để đối phó với khủng hoảng tài chính ngày càng tăng do hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu.
Các nhà cung ứng Nga đã khai thác triệt để nhu cầu cuối năm ở mức thấp tại châu Âu với khối lượng bán hàng nhỏ cùng với mức giá giảm 50 USD/tấn so với mức giá đạt được vào đầu tháng 12/2011.
Bước vào quý I/2012, có thể triển vọng thị trường phốt phát sẽ tiếp tục ảm đạm với sự giảm giá sâu hơn nữa. Ấn Độ, chiếm 50% thị trường, sẽ đứng ngoài thị trường giao ngay cho đến cuối mùa xuân và khi các hợp đồng DAP được tái đàm phán trong tháng 3 có thể sẽ phải chịu nhiều áp lực nếu không có sự gia tăng nhu cầu ưu tiên trước đó. Giá DAP xuất khẩu tại Vịnh Mỹ có khả năng sẽ tiếp tục suy yếu cho đến khi người tiêu dùng tại thị trường trong nước quyết định giá đã đủ thấp để tự tin mua hàng vào. Tuy nhiên, người nông dân có thể trì hoãn mua bán cho đến cuối tháng Hai và khi đó các nhà cung ứng sẽ phải chịu áp lực nhiều hơn nữa để buộc phải giảm giá và cắt giảm sản lượng.
+ Thị trường amoniac
Niềm tin trên thị trường amoniac cuối năm 2011 là khá bi quan và xu hướng giảm giá vẫn chưa có dấu hiệu chạm sàn. Điều này là trái ngược với một thị trường mạnh mẽ sôi động trong suốt cả năm với nhu cầu mạnh và nguồn cung căng thẳng. Thiếu hụt sản xuất ở Trinidad, sản xuất ở mức thấp hơn tại Úc và Vương quốc Anh do các vấn đề kỹ thuật cùng với sự sụt giảm nguồn cung từ Nga và châu Âu do nhu cầu cho sản xuất hạ nguồn cao hơn đã làm trầm trọng thêm cân bằng cung - cầu mỏng manh và đẩy giá amoniac tăng lên.
Giá amoniac đã đạt đến một mức cao tới 650 USD/tấn (FOB Yuzhny) vào tháng 10/2011, sau đó bị đẩy tới mức giá 705 USD/tấn (CFR Tampa) trong tháng 11. Đây là những mức giá chưa từng có kể từ nửa cuối năm 2008. Tuy nhiên, tất cả đã lùi vào dĩ vãng trong tháng cuối năm 2011, sự suy giảm nhu cầu của khu vực nông nghiệp theo mùa đã kết hợp với sự sụt giảm nhu cầu từ khu vực công nghiệp vì bất ổn kinh tế toàn cầu đã đẩy giá amoniac đi xuống.
Giá FOB tại Yuzhny cuối tháng 12 năm 2011 chỉ đạt khoảng 440-460 USD/tấn, và người ta còn kỳ vọng giá sàn có thể giảm đến mức khoảng 400 USD/tấn (FOB). Vào thời gian này năm 2010, giá amoniac cũng dao động quanh mức 400 USD/tấn FOB do đó tất cả các mức giá đạt được trong suốt năm 2011 thực tế đã bị xóa sổ.
Tại Đông Suez, giá amoniac cũng đã được điều chỉnh xuống nhưng phản ứng đã chậm hơn tại Yuzhny, điều này đã khuyến khích một lượng amoniac hàng hoá từ Yuzhny di chuyển về phía đông. Những giao dịch gần đây ở ngoài khu vực Trung Đông chỉ ở mức giá 460 USD/tấn FOB, giảm khoảng 130 USD/tấn so với những giao dịch giao ngay trước đó, nhưng vẫn còn cao hơn khoảng 60 USD/tấn so với năm 2010.
Trong ngắn hạn, các nhà sản xuất Nga và Ukraina đang xem xét cắt giảm sản lượng vào tháng 1-2012 để giữ cân bằng thị trường và bình ổn giá cả. Trong khi đó, nhu cầu dần gia tăng trở lại nhờ nhu cầu vật tư cho sản xuất vụ xuân 2012 ở Mỹ sẽ xuất hiện vào tháng 2/2012, nó sẽ thúc đẩy hỗ trợ cho thị trường ngay cả khi nhu cầu công nghiệp không được phục hồi sau đó.
Năm 2012, thị trường amoniac có vẻ sẽ vẫn còn ở trong tình trạng cân bằng cung cầu khá sít sao vì vậy bất kỳ sự gián đoạn bất ngờ nào xẩy ra sẽ dẫn đến những điều kiện thị trường căng thẳng và xu hướng giá tăng cao sẽ xuất hiện trở lại.
Những hàng hóa tăng và giảm giá nhiều nhất năm 2011
CNBC đã thống kê 10 mặt hàng tăng giá nhiều nhất và giảm giá nhiều nhất trong chỉ số CRB năm 2011 cụ thể như sau.
Tăng nhiều nhất
5. Dầu thô
- Mức tăng trong năm 2011: 8,7%
- Chốt năm: 99,36 USD/thùng
- Cao nhất trong năm: 114,83 USD/thùng
- Thấp nhất trong năm: 74,95 USD/thùng
4. Xăng
- Tăng trong năm 2011: 9%
- Giá cuối năm: 2,6513 USD/gallon
- Cao nhất trong năm: 3,4155 USD/gallon
- Thấp nhất năm: 2,3597 USD/gallon.
3. Vàng
- Mức tăng trong năm: 10%
- Chốt năm: 1.566 USD/ounce
- Cao nhất năm: 1.923,7 USD/ounce
- Thấp nhất trong năm: 1.521,9 USD/ounce
2. Gia súc
- Mức tăng trong năm: 13,7%
- Giá cuối năm: 1,2315 USD/lb
- Mức cao nhất năm: 1,2538 USD/lb
- Thấp nhất trong năm: 1,0198 USD/lb
1. Dầu hỏa
- Mức tăng trong năm: 13,8%
- Giá cuối năm: 2,8934 USD/gallon
- Giá cao nhất: 3,33 USD/gallon
- Giá thấp nhất: 2,4678 USD/gallon
Giảm nhiều nhất
5. Niken
- Mức giảm trong năm: 26%
- Giá cuối năm: 18.410 USD/tấn
- Giá cao nhất: 29.300 USD/tấn
- Giá thấp nhất: 16.785 USD/tấn
4. Đường
- Mức giảm trong năm: 28%
- Giá cuối năm: 23,13 cent/lb
- Giá cao nhất trong năm: 36,08 cent/lb
- Giá thấp nhất trong năm: 20,4 cent/lb
3. Ca cao
- Mức giảm trong năm: 29,7%
- Giá cuối năm: 2.133 USD/tấn
- Giá cao nhất: 3.775 USD/tấn
- Giá thấp nhất: 1.983 USD/tấn
2. Khí thiên nhiên
- Mức giảm trong năm: 30%
- Giá cuối năm: 3,084 USD/mBTU
- Giá cao nhất: 4,983 USD/mBTU
- Giá thấp nhất: 3,001 USD/mBTU
1. Bông
- Mức giảm trong năm: 37,4%
- Giá cuối năm: 90,68 cent/lb
- Giá cao nhất năm: 219,7 USD/lb
- Giá thấp nhất: 84,35 cent/lb