Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Diễn biến thị trường hàng hóa - nguyên liệu trong nước năm 2019
Cập nhật: 22-1-2020

VÀNG

Nhà đầu tư vàng đã ghi nhận khoản lãi 5,68 triệu đồng/lượng - mức lợi nhuận cao nhất trong các loại hình đầu tư cơ bản năm 2019


Kết thúc ngày giao dịch cuối cùng năm 2019, Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng tại thị trường TP.HCM ở mức 42,2-42,75 triệu đồng/lượng. Còn tại Hà Nội, giá vàng SJC đứng ở mức 42,25 - 42,77 triệu đồng/lượng, (mua vào - bán ra).

Đà tăng của vàng những phiên giao dịch cuối năm đã giúp kim loại quý kết thúc năm 2019 ở vùng giá cao (xấp xỉ 43 triệu đồng/lượng).

So với đầu năm, giá vàng trong nước đã tăng 6,18 triệu đồng mỗi lượng, tương đương gần 17%. Đầu năm 2019, vàng miếng SJC được các doanh nghiệp trong nước niêm yết ở mức 36,27-36,57 triệu đồng/lượng. Đây cũng là mức lợi nhuận cao nhất trong các loại hình đầu tư cơ bản năm 2019.

Nếu trừ đi chênh lệch giá mua và giá bán, người đầu tư vàng trong năm 2019 đã ghi nhận khoản lãi 5,68 triệu đồng/lượng, tương đương mức lãi ròng gần 16%.

Nhìn lại thị trường vàng miếng trong nước năm 2019 có thể thấy, những biến động của giá trong nước bắt nhịp khá nhịp nhàng với thị trường thế giới. Trong đó, sự biến động giá được ghi nhận ở hai mốc chính.

Đầu tiên là vào thời điểm tháng 6, khi giá vàng SJC liên tục tăng “nóng” từ mức 36,30 - 36,47 triệu đồng/lượng cuối tháng 5 lên mốc 39,25 triệu đồng/lượng (giá bán ra) hôm 25/6. Giá vàng theo đó đã tăng tới 2,78 triệu đồng, tương đương 7,6% giá trị chỉ sau 25 ngày và chính thức lập đỉnh cao nhất trong vòng hơn 3 năm qua.

Giá vàng trong nước tăng mạnh trong bối cảnh giá kim loại quý trên thị trường thế giới cũng đang có những phiên tăng đột biến. Theo đó, giá vàng giao kỳ hạn có những thời điểm lên tới 1.421 USD/ounce, mức cao nhất trong vòng 6 năm qua.

Tiếp đến, vào đầu tháng 8/2019, thị trường tiếp tục ghi nhận thêm một đợt tăng sốc mới. Theo đó, chỉ trong vòng hơn 1 tuần, giá vàng SJC đã nhảy vọt từ quanh mức 39,5 triệu đồng/lượng lên tới hơn 42 triệu đồng/lượng. Đây cũng là ngưỡng cao nhất của giá vàng trong 7 năm qua. 

Cũng như đợt tăng đầu tiên, giá vàng trong nước lần này tăng mạnh vẫn bám sát diễn biến thị trường thế giới khi giá vàng giao kỳ hạn đã vượt mốc quan trọng 1.500 USD/ounce và lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2013.

Giá vàng trong nước sau đó tiếp tục đi lên, tiến sát mốc 43 triệu đồng/lượng vào đầu tháng 9 trước khi “hạ nhiệt” và trở về giao dịch quanh mốc 41,6 -41,8 triệu đồng/lượng. Dù vậy, so với chốt phiên cuối cùng của năm 2018, mỗi lượng vàng SJC cũng đã tăng khoảng 14% giá trị.

Nếu như nhiều năm trước, nhà đầu tư Việt thường “phát sốt” trước những đợt tăng sốc của giá vàng. Thế nhưng, trong năm 2019, tình trạng đó hoàn toàn biến mất. Bất chấp giá vàng biến động mạnh như thế nào, trên thị trường không tái diễn cảnh người dân đổ xô, xếp hàng đi mua vàng. Thị trường khá bình lặng. Chính vì vậy, dù giá vàng thế giới có nhiều đợt thăng trầm đến đâu, giá vàng SJC không tăng dựng đứng theo. Kết quả là kết thúc năm 2019, tốc độ tăng của giá vàng SJC khiêm tốn hơn so với giá vàng thế giới. Cùng với đó lượng mua vào cũng không quá chênh lệch so với lượng bán ra. 

Có thể thấy, sau một năm giao dịch, giá vàng SJC tăng 5,93 triệu đồng/lượng, tương đương 16,3%. 16,3% là mức tăng trưởng khá nhưng lại khiêm tốn hơn so với con số 18,5% của giá vàng thế giới. Nguyên nhân là do nhà đầu tư không còn ưa chuộng găm giữ vàng như trước đây. Nhu cầu thấp nên giá vàng không thể đẩy lên cao như các năm trước đây được nữa. Trong ngày 31/12/2019, thời điểm giá vàng tăng nóng, tỷ lệ bán/mua tại Bảo Tín Minh Châu vẫn chỉ là 53%/47%. 

Nhu cầu mua vào không cao nên các “nhà vàng” không thể “ăn dày” bằng cách nới rộng chênh lệch giữa mức mua vào và bán ra. Trước đây, khi “nóng sốt”, mức chênh lệch có thể lên tới 2 triệu đồng/lượng. Còn hiện tại, trong những ngày bình thường, khoảng cách này chỉ dao động từ 150.000 đồng/lượng tới 300.000 đồng/lượng. Trong những ngày cuối năm và đầu năm mới, thị trường vàng nóng hơn, chênh lệch cũng chỉ được đẩy lên từ 200.000 đồng/lượng tới 600.000 đồng/lượng. Có thể thấy, người tiêu dùng Việt ngày càng biết bảo vệ bản thân trước những “cơn sóng” giá vàng.

ĐÔ LA

Cặp tỷ giá USD/VND gần như duy trì đà ổn định xuyên suốt trong năm 2019

Năm 2019 qua đi, nhìn lại “đường đi” của tỷ giá trong năm qua cho thấy chỉ có một vài cơn gợn sóng, không đủ sức “nhấn chìm” thị trường tiền tệ cũng như hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Nhờ thế, sang năm 2020, kỳ vọng vào sự bình ổn của tỷ giá vẫn rất cao.

Việt Nam đã có một năm 2019 tương đối thành công về mặt kinh tế, khi duy trì được tăng trưởng bền vững trong bối cảnh suy giảm thương mại toàn cầu và các rủi ro vĩ mô nảy sinh và gia tăng trong suốt năm. Nhờ đó, giá trị đồng tiền Việt Nam đã có mức ổn định cao trong điều kiện nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, nhất là tỷ giá nhiều đồng tiền quốc tế có những tăng giảm đột biến.

Về điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động sử dụng một loạt các công cụ thị trường tiền tệ như hạ lãi suất điều hành, hạ lãi suất thông qua kênh tín phiếu/thị trường mở, hạ tỷ giá mua vào song song với việc điều chỉnh tăng dần tỷ giá trung tâm phù hợp với diễn biến thị trường.

Cặp tỷ giá USD/VND gần như duy trì đà ổn định xuyên suốt trong hầu hết các tháng của 2019, thậm chí VND tăng giá so với đồng bạc xanh khi NHNN chủ động hạ giá mua vào ngày cuối tháng 11.

Cụ thể, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng trong năm chỉ dao động trong biên độ tương đối hẹp và dao động quanh tỷ giá mua vào của NHNN ở mức 23.200, sau đó là 23.175 khi NHNN hạ giá mua USD. Từ đó NHNN cũng mua được lượng lớn ngoại tệ, gia tăng dự trữ ngoại hối lên mức cao kỷ lục từ trước tới nay.

Biến động mạnh nhất của thị trường ngoại tệ phải kể đến tháng 6 và tháng 7 trong năm 2019, do tác động của các yếu tố quốc tế, nhất là việc Trung Quốc phá giá mạnh đồng Nhân dân tệ do căng thẳng thương mại leo thang, khiến tỷ giá trong nước liên tục nhảy vọt. Nhưng điều đáng mừng là thị trường trong nước tuy “xôn xao” nhưng hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không mấy ảnh hưởng. Nguyên nhân là do NHNN đã có những động thái can thiệp kịp thời bằng những tuyên bố sẽ bán ngoại tệ dự trữ để ổn định thị trường, giúp tâm lý người dân ổn định, không mạnh tay “đầu cơ” kiếm lời từ tỷ giá.

Trong những ngày cuối năm 2019, theo nghiên cứu của Ban Phát triển thị trường tài chính, Viện Chiến lược và chính sách tài chính (Bộ Tài chính), tỷ giá trung bình của các ngân hàng thương mại đang ở mức 23.176 USD/ounce, giảm 0,48% so với cuối năm 2018. Trên thị trường tự do, tỷ giá ở mức 23.189 USD/ounce, giảm 0,67% so với cuối năm trước. Các ngân hàng cũng cho biết, thanh khoản ngoại tệ dồi dào, đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ của nhân dân và các doanh nghiệp sản xuất.

Nhận xét về tình hình tỷ giá trong năm 2019, các chuyên gia của Ban Phát triển thị trường tài chính, Viện Chiến lược và chính sách tài chính cho rằng, về cơ bản, tỷ giá giữa USD và VND trong năm 2019 được duy trì ổn định, hỗ trợ thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá trung tâm, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá trên thị trường tự do. Các yếu tố chính giúp duy trì tỷ giá là cơ chế tỷ giá trung tâm và các công cụ điều tiết thị trường ngoại hối phát huy được hiệu quả hạn chế hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ. Hơn nữa, nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào do vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng khả quan. Đặc biệt, hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất VND và USD ở mức cao, dòng vốn ngoại tệ gửi ngân hàng vẫn nghiêng về nắm giữ VND.

Bước sang năm 2020, tỷ giá tiếp tục được điều hành theo cơ chế linh hoạt. Đáng chú ý, với việc dự trữ ngoại hối cao kỷ lục, NHNN có đủ công cụ và nguồn lực để điều hành tỷ giá theo hướng ổn định, đáp ứng cung-cầu thị trường.

Tuy nhiên, vẫn có những thách thức cần quan sát và theo dõi như những bất ổn khi kinh tế toàn cầu có dấu hiệu chậm lại, cuộc chiến thương mại và Brexit đều chưa đến hồi kết, 2020 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ…

THÉP XÂY DỰNG

Một năm sóng gió với ngành thép

Thời gian gần đây, thép giá rẻ nhập khẩu từ các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga… vào Việt Nam tăng nhanh khiến hoạt độn‌g sả‌n xuất, kin‌h doanh của ngành thép trong nước gặp nhiều khó khăn. Trong năm 2019, nguồn sắt thép từ Trung Quốc đổ vào thị trường Việt Nam lên hơn 5 triệu tấn; thép Ấn Độ, Nhật Bản nhập vào Việt Nam trên 2 triệu tấn, trị giá khoả‌ng 10 tỷ USD. Trong khi đó,  kết thúc năm 2019, xuất khẩu thép của chúng ta gi‌ảm hơn 50% cả về lượng lẫn trị giá so với năm 2018. tìn‌h hình tiêu thụ của thị trường trong nước cũng hết sức ảm đạm. Điều nghịch lý là dù tiêu thụ gi‌ảm nhưng tổng công suất thép lại tăng, khiến cho doanh nghiệp (DN) sả‌n xuất gặp rất nhiều khó khăn.

Theo các DN, việc tiêu thụ gặp khó khăn nguyên nhân không chỉ từ sức ép cạnh tra‌nh giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu, mà còn do ảnh hưởng bởi sức ép gia tăng từ chiến tra‌nh thư‌ơng mại, các nước đều đưa ra rào cản thư‌ơng mại để bảo vệ hàng sả‌n xuất trong nước.

Một nguyên nhân khá‌c, khi ngân hàng siết chặ‌t tín dụng cho vay đối với bấ‌t độn‌g sả‌n, các công trình xây dựng giãn tiến độ chậm lại, đã ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiêu thụ thép. Những tác độn‌g xấ‌u đó khiến cho việc sả‌n xuất kin‌h doanh của DN trong ngành năm qua gặp khó, phải cắ‌t gi‌ảm sả‌n xuất. Để ổn định sả‌n xuất kin‌h doanh, tạo việc làm cho người lao độn‌g, theo VSA, hiện nay DN ngành thép rất cần nguồn tài chính đầu vào, ngân hàng gi‌ảm lãi suất cho vay. Song song đó, cần các rào cản thư‌ơng mại đủ mạnh nhằm ngăn chặn sả‌n phẩm sắt thép nhập khẩu kém chất lượng tràn vào, đang làm xáo trộn thị trường giá cả trong nước. Tháo gỡ được những gánh nặng này thì thị trường thép mới hy vọng khởi sắc.

Khó khăn thêm chồng chất với ngành thép trong nước năm qua đó là các vụ điề‌u tra‌ phòng vệ thư‌ơng mại ngày càng gia tăng. Mới đây nhất, Bộ thư‌ơng mại Mỹ (DOC) thông báo kết luận cuối cùng vụ việc điề‌u tr‌a lẩn tránh biện ph‌áp chống bán ph‌á giá và chống trợ cấp với thép cán nguội (CRS) và thép chống ăn mòn (CORE) của Việt Nam có nguyên liệu đầu vào từ Hàn Quốc và Đài Loan. Theo đó, những l‌ô hàng thép CRS và CORE xuất khẩu từ Việt Nam không chứng minh được xuất xứ của nguyên liệu thép cán nón‌g bị áp mức thu‌ế lên đến 456%.

 Liên quan đến vấn đ‌ề này, VSA cho biết, ngay từ khi Mỹ ra quyết định khởi xướng điề‌u tr‌a (tháng 8-2018), VSA đã phối hợp làm việc với các DN xuất khẩu để làm rõ thông tin, đ‌ề nghị ngành sả‌n xuất trong nước phối hợp đầy đủ với cơ quan điề‌u tr‌a của Mỹ. Bên cạnh đó, Hiệp hội cũng kiến nghị Cục Phòng vệ thư‌ơng mại (Bộ Công Thư‌ơng) trao đổi trực tiếp, đ‌ề nghị DOC xem xét tạo điều kiện cho các DN tham gia cung cấp thông tin, mở rộng diện cho phép DN tự chứng nhậ‌n nguồn gốc nguyên liệu nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của ngành sả‌n xuất trong nước, đồng thời phối hợp với cơ quan hữu quan của Việt Nam và Mỹ để ngăn chặn các hàn‌h v‌i gian lận, lẩn tránh bấ‌t hợp ph‌áp. Ngoài ra, Bộ Công thư‌ơng cũng đã tham gia phiên điều trầ‌n do DOC tổ chức để bày tỏ quan điểm và có các cuộc họp với DOC để làm rõ đ‌ề nghị của Việt Nam.

Theo VSA, các DN sả‌n xuất, xuất khẩu lớn cũng đã chủ độn‌g xây dựng phương á‌n sả‌n xuất, kin‌h doanh trong bối cảnh Mỹ điề‌u tr‌a chống lẩn tránh. Cụ thể, ngành thép đã chuyển hướng sử dụng nguyên liệu đầu vào (thép cán nón‌g) từ nhiều nguồn khác cũng như mua thép cán nón‌g sả‌n xuất trong nước, xây dựng hệ thống quản lý để phục vụ việc tự chứng nhậ‌n. Điều này sẽ giúp các DN Việt Nam gi‌ảm thiểu rủ‌i r‌o khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Thông qua sự việc này, VSA đưa ra khuyến cá‌o, các DN cần nâng cao năng lực cạnh tra‌nh bằng cách áp dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm chi phí; chủ độn‌g sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước hoặc mua nguyên liệu từ những quốc gia khác như Nhật Bản, Brazil, Áo, Bỉ… để sả‌n xuất ra các sả‌n phẩm thép xuất khẩu sang Mỹ, nhằm gi‌ảm thiểu rủ‌i r‌o.

Về tình hình xuất nhập khẩu, lũy kế 11 tháng, lượng nhập khẩu sắt thép các loại vào Việt Nam đạt 13,36 triệu tấn, trị giá 8,79 tỷ USD, tăng 7,7% về lượng nhưng giảm 3,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép các loại lớn nhất vào Việt Nam với 4,89 triệu tấn giảm 15% so với cùng kỳ năm trước.

Về xuất khẩu, tính đến 31/10/2019, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 5,3 triệu tấn thép thành phẩm, tăng 2,8% về lượng so với cùng kỳ năm 2018. Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2019 đạt hơn 3,49 tỷ USD, giảm 9% về trị giá xuất khẩu. Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là khu vực ASEAN với 63%; Tiếp theo là Hoa Kỳ (6,5%); Châu Âu (5,6%); Hàn Quốc; Trung Quốc và Nhật Bản.

Về giá cả, nhìn chung trong năm 2019, thị trường thép không có quá nhiều biến động. Tại thời điểm đầu quý IV/2019, sau khi giảm giá liên tục trong hai tháng 9 và 10/2019, giá thép xây dựng đầu tháng 11/2019 đã có nhiều dấu hiệu chững lại và quay đầu tăng giá. Mặc dù, các nhà máy sản xuất chưa có động tĩnh về việc tăng giá, tuy nhiên giá đã chững không giảm thêm nữa. Đây là tín hiệu cho thấy mức giá thép hiện nay trên thị trường nội địa đã đạt đáy.

Báo cáo triển vọng ngành thép năm 2020 mới được VCBS công bố cho biết, khả năng giá thép giảm sâu xuống dưới 12 triệu đồng/tấn là khá thấp do thuế tự vệ bổ sung vẫn còn kéo dài tới hết tháng 3/2020, thép phế liệu vẫn duy trì ở mức khá cao (350 USD/tấn) so với giai đoạn 2015-2017 (250 - 300 USD/tấn) cùng với việc bị siết chặt nhập khẩu dẫn tới các nhà sản xuất từ lò điện sẽ có xu hướng nhập phôi đang giảm giá từ Trung Quốc về để cán.

Cũng tại báo cáo, VCBS nhận định, nhu cầu đối với sản phẩm xây dựng cơ bản như thép vẫn ở mức cao. Bộ Công Thương cũng dự báo tiêu thụ thép sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 15%/năm cho tới năm 2020 (tương đương mức tiêu thụ 285 kg thép/người, mức trung bình của khu vực ASEAN).

XI MĂNG

Năm 2019: Giá trị xuất khẩu xi măng, clinker đạt gần 1,4 tỷ USD 

Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), năm 2019, xuất khẩu xi măng, clinker của nước ta đạt xấp xỉ 34 triệu tấn, trị giá 1,394 tỷ USD, tăng hơn 148 triệu USD so với năm 2018. Như vậy, năm nay là năm thứ 2 liên tiếp, ngành xi măng ghi nhận mức xuất khẩu kỷ lục, tiếp tục trong top các mặt hàng xuất khẩu tỷ USD.

Năm 2018, với gần 32 triệu tấn sản phẩm xuất khẩu, trị giá 1,246 tỷ USD, Việt Nam trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu xi măng, clinker. Cần phải nói thêm, sản lượng xuất khẩu của năm 2018 đã tăng tới 11 triệu tấn so với năm 2017.

Ước tính, tổng sản lượng xi măng, clinker tiêu thụ trong năm 2019 khoảng 98 - 99 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2018. Trong đó, xi măng tiêu thụ nội địa khoảng 67 triệu tấn, xuất khẩu sản phẩm xi măng và clinker khoảng 34 triệu tấn.

Với kết quả xuất khẩu 34 triệu tấn và gần 1,4 tỷ USD, kết quả này đã vượt khoảng 100-150 triệu USD so với dự báo của Bộ Xây dựng từ đầu năm 2019.

Ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng cho biết, hoạt động của doanh nghiệp xi măng tốt hơn nhờ thị trường xuất khẩu tích cực, giá xuất khẩu cũng có cải thiện so với những năm trước, bao gồm cả clinker lẫn xi măng.

Ông Cung cũng lưu ý vừa qua do chi phí nguyên vật liệu đầu vào như giá điện, giá than tăng cao, một loạt doanh nghiệp xi măng tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán xi măng nhằm giảm chi phí tại thời điểm cuối quý 3 và đầu quý 4/2019. Đơn cử như xi măng Công Thanh đã có thông báo gửi các nhà phân phối khu vực miền Trung điều chỉnh tăng 30.000 đồng/tấn bao xi măng 50kg; Xi măng Long Sơn tăng 50.000 đồng/tấn đối với xi măng bao PCB 30, PCB 40, xi măng Hoàng Long tăng 20.000 đồng/tấn, xi măng The Vissai cũng điều chỉnh giá bán các loại xi măng bào tăng 50.000 đồng/tấn và xi măng rời tăng 20.000 đồng/tấn.

Bộ Xây dựng dự báo trong năm 2020, ước tính nhu cầu tiêu thụ xi măng toàn ngành năm 2020 sẽ đạt khoảng 101 - 103 triệu tấn, tăng 4 - 5% so với năm 2019, trong đó tiêu thụ xi măng nội địa khoảng 69 - 70 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 32 - 34 triệu tấn.

Về khả năng sản xuất, năm 2020 sẽ dự kiến có 2 dây chuyển sản xuất xi măng đi vào vận hành. Cùng với 86 dây chuyền sản xuất xi măng hiện có của cả nước, tổng công suất đạt 105,84 triệu tấn, hoàn toàn có khả năng sản xuất xi măng, đáp ứng tiêu thụ năm 2020 gồm cả xi măng tiêu thụ nội địa và clanhke, xi măng xuất khẩu.

Tuy nhiên, theo ông Cung, thị trường liệu xây dựng (VLXD) năm 2020 vẫn sẽ tương đương năm 2019, thậm chí có xu hướng tăng chậm lại do qui luật của thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ và xuất khẩu xi măng của Việt Nam.

Vì vậy, các doanh nghiệp cần theo dõi sát sao và có biện pháp bình ổn nếu cần thiết. Ngoài ra cũng cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, đáp ứng các sản phẩm có mẫu mã mới, sản phẩm xanh, công nghệ thông minh và chất lượng được nâng cao.

Bước sang năm 2020, Bộ Xây dựng dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng sẽ tiếp tục tăng ở mức 4 - 5% so với năm 2019, đạt khoảng 101 - 103 triệu tấn, trong đó, tiêu thụ xi măng nội địa khoảng 69 - 70 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 32 - 34 triệu tấn.
Ngành sản xuất trong nước đủ sức đáp ứng cho cả thị trường nội địa và xuất khẩu, và dự kiến có thêm 2 dây chuyền sản xuất xi măng đi vào vận hành. Gần nhất sẽ là dự án xi măng Tân Thắng tại Nghệ An, có quy mô 2 triệu tấn sẽ đi vào vận hành khoảng giữa năm 2020.
 

XĂNG DẦU 

Giá xăng tăng 10 lần, giảm 11 lần và 4 lần giữ nguyên trong các kỳ điều hành năm 2019 

Biến động thị trường xăng dầu trong nước gắn liền với biến động của thị trường thế giới. Năm 2019, giá xăng dầu đã chính thức khép lại sau đợt điều chỉnh cuối cùng vào chiều ngày 31/12 vừa qua. Theo thông báo từ liên Bộ Công Thương - Tài chính, trong kỳ điều hành cuối cùng năm 2019, giá xăng, dầu trong nước đều tăng giá. Cụ thể, mỗi lít xăng RON 95 tăng 104 đồng, xăng E5 RON 92 tăng 152 đồng. Các mặt hàng dầu hoả, dầu diesel và madut thêm lần lượt 569 đồng, 528 và 562 đồng một lít, kg. 

Nhà điều hành trích lập 100 đồng một lít với xăng E5 RON 92, dầu diesel; còn mặt hàng xăng RON 95 trích 400 đồng và dầu madut là 300 đồng vào Quỹ bình ổn. Trong khi đó, mức chi từ Quỹ cho mặt hàng xăng E5 RON 92, dầu diesel và dầu hoả là 150 đồng một lít. 

Sau điều chỉnh, xăng E5 RON 92 lên tối đa 19.881 đồng; xăng RON 95 không quá 20.990 đồng, dầu hoả 15.585 đồng, diesel là 16.591 đồng và madut không quá 11.920 đồng một kg. 

Trong năm 2019, giá xăng dầu đã trải qua 25 kỳ điều chỉnh với 10 lần tăng giá xăng, giảm 11 lần và 4 lần giữ nguyên giá. Tổng cộng, giá xăng RON E5 RON 92 tăng khoảng 3.600 đồng một lít; xăng RON 95 đắt hơn 3.300 đồng một lít so với đầu năm.

Thực hiện nguyên tắc công khai minh bạch trong điều hành giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, Bộ Tài chính đã công khai thông tin về tình hình trích lập, sử dụng và lãi phát sinh trên số dư Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. Theo đó, số dư quỹ bình ổn giá xăng dầu đến hết quý 3/2019 là 2.019 tỷ đồng. Trong khi đó, số dư quỹ bình ổn giá xăng dầu tại thời điểm 31/12/2018 là 3.504 tỷ đồng. Trước đó, số dư quỹ bình ổn giá xăng dầu đến hết quý 1/2019 đã âm 620 tỷ đồng, còn số dư hết quý 2/2019 là âm 499 tỷ đồng.

Tổng số trích quỹ bình ổn giá xăng dầu trong quý 3/2019 đạt 2.518,191 tỷ đồng. Ông Trần Duy Đông - Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, Ban soạn thảo Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu vẫn quyết định vẫn giữ lại Quỹ Bình ổn giá xăng dầu bởi Quỹ này đã thể hiện là công cụ linh hoạt để bình ổn giá xăng dầu trong nước phù hợp với mục tiêu kìm lạm phát, ổn định chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Về tình hình nhập khẩu mặt hàng được xem là “xương sống” của nền kinh tế, trong năm 2019 Việt Nam đã giảm mạnh nhập khẩu xăng dầu từ các thị trường. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu xăng dầu vào Việt Nam 10 tháng đầu năm 2019 đạt 8,01 triệu tấn, trị giá 4,88 tỷ USD, giảm 19,8% về lượng, giảm 27,6% về kim ngạch và giảm 9,7% về giá so với cùng kỳ năm 2018. Việt Nam nhập xăng dầu nhiều nhất từ Hàn Quốc, trong 10 tháng năm 2019 đạt 2,05 triệu tấn, trị giá 1,33 tỷ USD, chiếm 25,6% trong tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước và chiếm 27,2% trong tổng kim ngạch, giảm 12,2% về lượng, giảm 22,4% về kim ngạch. Malaysia là thị trường lớn thứ 2 cung cấp xăng dầu cho Việt Nam, với 2,18 triệu tấn, trị giá 1,29 tỷ USD, chiếm 27% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của cả nước, giảm 23,9% về lượng, giảm 28,9% về kim ngạch và giảm 6,6% về giá so với cùng kỳ năm 2018.

GAS

Giá gas có 8 lần tăng và 2 lần giảm giá trong năm 2019

Ngày 31-11-2019, theo thông báo phát đi của các doanh nghiệp đầu mối tại TP Hồ Chí Minh từ kể từ 1/12, giá bán lẻ gas ra thị trường được điều chỉnh tăng 292 đồng/kg (giá đã bao gồm VAT), tương đương là 3.500 đồng/bình 12 kg.

Cụ thể, Công ty Gas Pacific Petro, City Gas, EFF Gas cho biết từ ngày 1/12 sẽ tăng giá bán lên 3.500 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ đến người tiêu dùng không vượt quá 330.500 đồng/bình 12 kg. Tương tự, Công ty TNHH MTV Dầu khí TP Hồ Chí Minh (Saigon Petro) tăng 3.500 đồng/bình 12 kg. Giá bán lẻ tối đa đến người tiêu dùng là 334.000 đồng/bình 12 kg.

Trong khi đó, Petrolimex Gas SaiGon cũng tăng 3.500 đồng/bình 12 kg, giá bán lẻ đến người tiêu dùng tại TP Hồ Chí Minh là 337.000 đồng/bình 12 kg.

Nguyên nhân giá gas tháng 12 tăng được các công ty trong nước cho biết, là nhà cung cấp thế giới công bố giá nhiên liệu 447,5 USD một tấn, tăng lên 10 USD mỗi tấn so với tháng trước.

Trước đó, giá gas trong tháng đầu năm 2019 được điều chỉnh tăng 4.000 đồng mỗi bình 12/kg, tháng 2 tăng 12.000 đồng/bình 12kg, tháng 3 tăng 17.000 đồng/bình 12kg, tháng 4 tăng 7.000 đồng/bình 12kg, tháng 5 tăng 2.000 đồng/bình 12 kg, tháng 6 giảm 33.000 đồng, tháng 7 giảm 19.000 đồng. Bước sang tháng 8 và 9, giá gas giữ nguyên như tháng 7/2019 ở mức 306.000 đồng bình 12kg và 1.583.000 đồng/bình 45 kg. Tháng 10, giá gas tăng lên 2.000 đồng/kg. Như vậy, với loại bình 12 kg thì giá gas sẽ tăng thêm 24.000 đồng so với tháng 9 và ở mức tương đương 24.000 đồng bình 12kg. Với mức tăng này, từ ngày 1/10, giá bán lẻ tối đa gas SP ở mức 330.000 đồng bình 12kg.

Bước sang tháng 11, giá bán lẻ đối với gas đã tăng 292 đồng/kg (đã VAT), tương đương 3.500 đồng bình 12kg - nâng giá bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng trong tháng 11/2019 là 333.500 đồng/bình 12 kg.

Ô TÔ

Thị trường ô tô 2019 - Xu thế giảm giá trải dài suốt cả một năm


Năm 2019 là một năm sôi động với nền kinh tế Việt Nam khi 2 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới quan trọng EVFTA được ký kết và đặc biệt là CPTPP có hiệu lực đã tác động lớn đến thuế xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng, trong đó có ô tô. Ngoài ra, việc nhập ô tô tại các nước sản xuất trong khối ASEAN cũng có sự gia tăng do được hưởng thuế suất nhập khẩu 0%.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tình hình nhập khẩu ô tô của Việt Nam trong các tháng vừa qua có nhiều chuyển biến sôi động. Các số liệu thống kê của từng tháng cho thấy, cao điểm là tháng 2 và tháng 5/2019, số lượng ô tô nguyên chiếc các loại được nhập vào Việt Nam lên tới hơn 14 nghìn xe. Mặc dù có sự tăng nhẹ trong tháng 7, song nhập khẩu ô tô lại đang có xu hướng giảm dần trong quý III. Đặc biệt, trong tháng 8, số xe nhập khẩu chỉ còn trên 9,2 nghìn xe, với trị giá 201,2 triệu USD, giảm 18% về lượng và 21% về giá trị so với tháng trước đó. Điều này được các chuyên gia thị trường lý giải là do các doanh nghiệp nhập khẩu đang chuẩn bị cho mùa cao điểm, khi thói quen mua sắm, tiêu dùng của người Việt thường tăng vào dịp cuối năm. Tuy vậy, tổng số ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 đã đạt gần tới 96 nghìn xe, trị giá trên 2,1 tỷ USD. Trong đó, ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống là trên 71 nghìn xe (gấp 4 lần cùng kỳ năm 2018), ô tô tải là trên 21,5 nghìn xe (gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2018), còn lại là các loại ô tô khác. Trong khi đó, cùng thời điểm năm 2018, Việt Nam mới chỉ nhập khẩu 28,8 nghìn xe với trị giá khoảng 681,6 triệu USD. Như vậy, số ô tô nhập khẩu vào Việt Nam đã tăng đáng kể lên 332,9% về lượng và tăng 313,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018, đem lại nguồn cung dồi dào cho thị trường. 

Theo thống kê, Việt Nam nhập khẩu ô tô từ 12 quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, lượng ô tô nguyên chiếc các loại được đăng ký làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ 6 thị trường chính là: Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc. Số xe nhập khẩu từ 6 thị trường này đã chiếm tới 96,5% tổng lượng xe nhập khẩu và chiếm 89,5% về giá trị. Trong đó, Thái Lan liên tục là quốc gia xuất khẩu ô tô đứng đầu cả về số lượng và giá trị trong số các quốc gia đăng ký làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam với gần 56,8 nghìn xe, trị giá trên 1,14 tỷ USD, chiếm gần 60% tổng lượng xe nhập khẩu của 8 tháng đầu năm. Ngoài Thái Lan, thành viên ASEAN khác cũng là thị trường nhập khẩu ô tô quan trọng hàng đầu của Việt Nam là Indonesia với tổng số lượng trên 28,1 nghìn xe, tổng kim ngạch đạt trên 393,9 triệu USD. Các hãng xe đến từ Hàn Quốc với mẫu mã đẹp, trang bị nhiều phụ kiện mà giá thành hợp lý cũng đang dần lấy được sự tín nhiệm của người tiêu dùng Việt Nam khi số lượng nhập khẩu ngày càng tăng lên. Ngoài ra, nguồn cung xe ô tô nhập khẩu còn đa dạng và phong phú đến từ ngành công nghiệp sản xuất ô tô của các quốc gia như: Nga, Ấn Độ, Mỹ, Anh, Canada, Pháp.

Còn theo thông tin từ Tổng cục Hải quan, hết năm 2019, ước tính đã nhập khẩu 142.000 ô tô nguyên chiếc các loại, với tổng trị giá đạt 3,1 tỷ USD, tăng 71% về lượng và tăng 69,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.Tính riêng trong tháng 12/2019, mặt hàng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu về Việt Nam ước tính đạt 8.000 chiếc, với tổng trị giá đạt 140 triệu USD.

Bên cạnh lượng ô tô nhập khẩu phong phú về chủng loại, mẫu mã đến từ nhiều quốc gia, thị trường ô tô trong nước năm 2019 còn tiếp tục tăng trưởng với sự góp mặt của các chủng loại ô tô được lắp ráp và sản xuất trong nước. Trong 3 quý đầu năm, ngành công nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam đã sản xuất được 243,3 nghìn xe, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, quý I sản xuất được 69,4 nghìn xe, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2018; quý II sản xuất được 84,3 nghìn xe, tăng 7,8%; quý III sản xuất được 89,6 nghìn xe, tăng 2,7%. Sản lượng ô tô sản xuất trong nước ở các quý liên tục tăng so với năm trước đã cho thấy tín hiệu tăng trưởng ổn định của nền kinh tế cũng như sự chuyển dịch tích cực của đầu tư nước ngoài và thương mại sẽ tạo ra những cơ hội tốt cho sự phát triển của thị trường ô tô trong những tháng cuối năm. Nhờ đó, chỉ số sản xuất công nghiệp đối với xe có động cơ của 3 quý đầu năm tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Tại Việt Nam, các thành viên nằm trong Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cùng một số doanh nghiệp ngoài Hiệp hội đã đóng góp tích cực cho sản xuất ô tô trong nước. Đặc biệt trong năm 2019 phải kể đến sự xuất hiện của thương hiệu ô tô “made in Vietnam” đến từ Tổ hợp sản xuất ô tô và xe máy điện Vinfast của tập đoàn Vingroup với 3 mẫu xe được giới thiệu là Fadil, LUX A2.0 và LUX SA2.0. Nhà máy Vinfast đạt quy mô và độ hiện đại hàng đầu thế giới, đáp ứng xu thế 4.0 vừa khánh thành hồi tháng 6/2019 đã góp phần đưa công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam lên tầm cao mới; đánh dấu bước tự chủ sản xuất và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu dưới thương hiệu Việt.

Về tình hình tiêu thụ, mới đây nhất Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (
VAMA) đã công bố doanh số bán hàng của các đơn vị thành viên trong tháng 11/2019. Theo đó, toàn thị trường bán được 29.846 chiếc, tăng 3% so với tháng 10/2019 và giảm 3% so với tháng 11/2018. Tổng số xe được giao đến tay khách hàng trong 11 tháng qua là 289.128 chiếc. Như vậy, trong 11 tháng của năm 2019, toàn thị trường Việt Nam tiêu thụ được 359.930 chiếc (đã cộng dồn báo cáo của VAMA và TC Motor). Con số này cao hơn mức 352.209 của cả năm 2018. 

Thị trường ô tô năm 2019 còn cạnh tranh rất khốc liệt về giá. Nguyên nhân là do thị trường ô tô Việt Nam tăng trưởng không như dự đoán dẫn đến lượng hàng tồn kho của các hãng xe rất lớn. Sức ép của hàng tồn đối với các hãng xe và đại lý rất lớn, do đó sự cạnh tranh không chỉ là giữa các hãng xe mà còn là giữa các đại lý với nhau.

Cũng theo dự báo, giá xe các mẫu xe đang bán trên thị trường sẽ tiếp tục giảm khi các hãng xe vẫn liên tiếp giới thiệu ra thị trường các mẫu xe mới để đa dạng hóa danh mục sản phẩm. Thêm đó, xe nhập khẩu vẫn liên tục đổ về nước cũng mang đến áp lực khiến cho nhiều dòng xe trong nước phải giảm giá để cạnh tranh.

Nhìn lại gần 1 năm qua, các chuyên gia đánh giá thị trường ô tô Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khó khăn, thách thức và cạnh tranh khốc liệt từ các hãng phân phối do nguồn cung từ nhập khẩu cũng như sản xuất trong nước đang dồi dào. Dự báo năm 2020 là thời điểm các hãng xe thay đổi mẫu cũ, ra mẫu mới, đây là điều kiện để các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau về giá, chất lượng xe, trang thiết bị đi kèm. Dưới áp lực doanh số, sự cạnh tranh của các mẫu xe, rất có thể các mẫu xe mới không tăng giá quá nhiều, thậm chí có thể phải giảm giá sâu để cạnh tranh.

LÚA GẠO

Kết thúc 2019 ảm đạm, thị trường gạo đón năm mới với các dự báo lạc quan 


Năm 2019, chịu ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu ảm đạm, thị trường gạo Việt Nam cũng không mấy khả quan dù khối lượng xuất khẩu tăng, nhưng giá trị lại biến động theo chiều hướng ngược lại.

Theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan, hoạt động xuất khẩu trong năm nay chủ yếu đi theo xu hướng ổn định sau đó giảm.

Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 11 ước đạt hơn 365.000 tấn, với giá trị hơn 168 triệu USD; đưa tổng khối lượng xuất khẩu 11 tháng đầu năm lên gần 5,9 triệu tấn, tăng 3,5% so với cùng kì năm ngoái nhưng giá trị xuất khẩu giảm 9,6% xuống khoảng 2,57 tỉ USD.

Ông Đỗ Hà Nam - Phó Chủ tịch VFA cho biết, mặc dù xuất khẩu gạo nói chung trong năm 2019 có nhiều giảm sút về giá trị nhưng trên diện rộng xuất khẩu gạo vẫn có những điểm sáng khi đã kịp thời chuyển dịch mạnh sang xuất khẩu gạo chất lượng cao, bắt nhịp được với thị trường thế giới.

Việc Trung Quốc siết chặt hoạt động nhập khẩu nông sản nói chung và mặt hàng gạo nói riêng cũng tác động phần nào tới xuất khẩu gạo của Việt Nam. Cuối tháng 12/2018, đại diện Tham tán Thương mại Việt Nam tại Trung Quốc cho hay 3 trong số 22 doanh nghiệp được phép xuất khẩu gạo sang Trung Quốc bị nước này từ chối nhập khẩu do vi phạm qui định về an toàn thực phẩm. Trước đây, Trung Quốc còn khá dễ tính trong việc kiểm soát gạo nhập khẩu. Giai đoạn 2014 - 2015, một số doanh nghiệp còn xuất khẩu gạo qua đường biên mậu. Tuy nhiên, sau đó Trung Quốc nhận thấy nếu nhập khẩu gạo qua đường biên mậu thì nguy cơ hạn ngạch sẽ bị phá vỡ. Cuối cùng, Trung Quốc siết chặt việc nhập khẩu qua đường này khiến hàng loạt lô hàng gạo với số lượng lên tới hàng chục nghìn tần bị tắc ở cửa khẩu.

Ngoài Trung Quốc, thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm với 33,2% thị phần - Phillipines (theo Cục Chế biến và Phát triển Thị trường Nông sản), cũng xảy ra nhiều biến động. 

Mặc dù vậy, gạo Việt Nam có một lợi thế lớn về giá trong năm nay. Giá gạo xuất khẩu đang ở mức thấp so với 3 năm trở lại đây, dao động trong khoảng 400 - 460 USD/tấn, theo dữ liệu tổng hợp từ Tổng cục Hải quan.Mức giá này thấp hơn khoảng 14% so với năm 2018. Điều này giúp gạo Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong mắt người mua so với các đối thủ lớn là Ấn Độ và Thái Lan. 

Chia sẻ về định hướng xuất khẩu trong 2020, ông Đỗ Hà Nam cho biết, thời điểm này vẫn chưa thể nói cụ thể con số mục tiêu mà ngành gạo sẽ đặt ra. Tuy nhiên về về mặt chiến lược, ngành gạo cần phải phát triển các loại gạo mới có chất lượng, thương hiệu bên cạnh việc chú trọng tới khâu sản xuất, xây dựng quảng bá hình ảnh.

Mới đây, đại diện Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cũng cho biết Thái Lan đã triển khai gói trợ cấp cho ngành lúa gạo giai đoạn 10/2019-10/2020, dự báo giá gạo Thái Lan sẽ cao làm giảm khả năng cạnh tranh. Đây sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong mở rộng thị trường trong năm 2020.

THỦY SẢN

Năm 2020, ngành thủy sản tiếp tục đối mặt nhiều thách thức

Năm 2019 là năm khó khăn của ngành thủy sản khi một số ngành hàng phải đối mặt với nhiều thách thức, đồng thời, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và các rào cản kỹ thuật của một số nước nhập khẩu đã ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất thủy sản.

Ước tính, năm 2019, tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản đạt 6,25% so với năm 2018, tổng sản lượng đạt khoảng 8,15 triệu tấn, tăng 4,9%, trong đó sản lượng khai thác đạt 3,77 triệu tấn, tăng 4,5%, nuôi trồng đạt 4,38 triệu tấn, tăng 5,2%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 8,6 tỷ USD.

Từ đầu tháng 3 đến tháng 9/2019, giá tôm giảm do cạnh tranh từ xuất khẩu của Ấn Độ và Ecuador và sản lượng tồn kho từ năm 2018, trong khi Trung Quốc bắt đầu siết chặt kiểm soát chất lượng, truy suất nguồn gốc tại biên giới và diễn biến khó lường của cuộc chiến tranh thương mại Trung - Mỹ.

Trước tình hình đó, Tổng cục Thuỷ sản đã đánh giá sâu diễn biến thị trường, sản xuất, tiêu thụ tôm, đưa ra khuyến cáo người nuôi tôm tuân thủ kỹ thuật, mùa vụ, tăng cường các biện pháp chăm sóc, quản lý, kiểm soát môi trường nuôi, ổn định sản xuất và thực hiện hợp tác, liên kết theo chuỗi để gắn sản xuất với thị trường để nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiểu rủi ro đối với sản phẩm xuất khẩu. Cùng với việc nhu cầu thị trường nhích lên, sản lượng tôm và giá tôm trong nước và thế giới được cải thiện, tạo đà cho xuất khẩu tôm những tháng cuối năm 2019 và đầu năm 2020.

Không chỉ tôm, năm 2019 cũng là năm ghi nhận khó khăn đối với ngành hàng cá tra. Theo đó, việc xuất khẩu đi một số thị trường lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc bắt đầu giảm từ tháng 3/2019, Ả rập - Xê út vẫn đóng cửa đối với sản phẩm thủy sản Việt Nam, một số quốc gia lân cận đã phát triển nuôi cá tra... Những nguyên nhân trên đã dẫn đến việc giá cá tra nguyên liệu giảm từ cuối tháng 3/19 sau 2 năm tăng trưởng liên tục.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản thông tin: Giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL trong tháng 11, 12  tiếp tục đứng giá ở mức thấp, dao động trong khoảng 20.000-20.500 đồng/kg đối với cá tra loại I (800-900g/con), trong khi giá thu mua tại trang trại dao động 19.000-19.700 đồng/kg. Mức giá này giảm khoảng 5.000-8.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường giao dịch chậm, các công ty chủ yếu thu hoạch cá trong vùng nuôi của DN và thu mua theo phiếu liên kết với các hộ nuôi cá.

Bên cạnh những khó khăn về thị trường, nỗi buồn giá thấp, điểm đáng mừng là những ngày cuối năm, ngành cá tra Việt đã đón nhận thông tin khá tích cực. Cụ thể, ngày 31/10, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã chính thức công bố quyết định công nhận tương đương hệ thống kiểm soát ATTP cá da trơn của Việt Nam XK sang Mỹ sau hơn 3 năm nỗ lực từ phía Việt Nam.

Cho biết thêm về những vướng mắc trong “gỡ thẻ vàng” cho thủy sản trong năm 2019, bà Phan Thị Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Tổng cục Thủy sản) cho rằng, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế mà Việt Nam cần phải tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành với nỗ lực, quyết tâm hơn nữa để khắc phục các khuyến nghị của Uỷ ban châu Âu (EC), đặc biệt là tăng cường phối hợp, điều tra, xử phạt tàu cá vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định (IUU), ngăn chặn, chấm dứt tàu cá và ngư dân Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài. Năm 2020, việc Việt Nam nỗ lực hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ngành thủy sản, đặc biệt là thực thi Luật Thủy sản một cách đồng bộ sẽ là điều kiện quan trọng.

Năm 2020, Tổng cục Thủy sản đặt mục tiêu tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 8,2 triệu tấn, tăng 0,6% so với ước thực hiện năm 2019; sản lượng cá tra 1,42 triệu tấn, tương đương so với năm 2019; sản lượng tôm các loại 850.000 tấn, tăng 3,7%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 10 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2019.

HẠT TIÊU

Xuất khẩu hồ tiêu trượt dài trong mất giá

Báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) cho thấy: 11 tháng năm 2019, xuất khẩu hồ tiêu ước đạt 269 nghìn tấn và 677 triệu USD, tăng 23,3% về khối lượng nhưng giảm 5,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý, giá tiêu XK bình quân 10 tháng năm 2019 chỉ đạt 2.533 USD/tấn, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Suốt từ đầu năm 2019, giá hồ tiêu xuất khẩu sụt giảm, “bức tranh” toàn ngành nhìn chung theo xu hướng lượng xuất khẩu đi lên, song giá trị lại theo chiều đi xuống. Nhìn theo cả quá trình, những năm gần đây, sản phẩm nông sản đình đám một thời được ví von như “vàng đen” này thực ra đã trượt dài trong mất giá.

Bộ NN&PTNT nêu rõ: Nếu như năm 2016, giá trị xuất khẩu hồ tiêu đạt 176,6 nghìn tấn, tăng 34,3% về khối lượng và tăng 12,9% về giá trị so với năm 2015 thì những năm sau đó đến nay, giá trị XK lại đều theo chiều đi xuống. Cụ thể, năm 2017 giá trị hồ tiêu XK ước đạt 1,11 tỷ USD, giảm 21% so với năm 2016; năm 2018, XK hồ tiêu đạt 758,8 triệu USD, giảm 32,1%.

Hiện nay, toàn quốc có khoảng 200 doanh nghiệp chế biến, kinh doanh hồ tiêu. Sản phẩm hồ tiêu chế biến chủ yếu gồm các mặt hàng như tiêu đen, tiêu trắng, tiêu nghiền bột,... Điểm đáng chú ý là, cơ cấu sản phẩm hồ tiêu chế biến chưa hợp lý. Tiêu trắng (tiêu sọ) có giá trị gia tăng cao chỉ chiếm 10 - 15% tổng sản lượng. Hồ tiêu Việt Nam chủ yếu vẫn xuất thô, luôn cạnh tranh bằng giá ở phân khúc thấp.

Quay trở lại câu chuyện của riêng năm 2019, tại thị trường trong nước, giá thu mua hạt tiêu đen biến động tăng trong tháng 11/2019. So với tháng 10, giá tiêu tại Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 500 đồng/kg lên 42.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai và Đồng Nai tăng 1.000 đồng/kg lên 40.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đắk Lắk, Đắk Nông giữ mức 40.500 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, giá tiêu XK đã bắt đầu có xu hướng tăng tại một số cảng XK lớn như cảng Sài Gòn (Việt Nam) và cảng Kochi (Ấn Độ). Giá tiêu được dự báo sẽ khó có khả năng tăng mạnh trong thời gian tới do nguồn cung vẫn còn dồi dào và nhu cầu sẽ không tăng nhiều vào các tháng tiếp theo do các thị trường đã NK một lượng hạt tiêu lớn từ giữa năm.

Nói là giá hạt tiêu có xu hướng nhích lên trong tháng 11/2019 so với tháng 10/2019, song nếu nhìn lại “bức tranh” từ đầu năm tới nay, giá hiện tại thậm chí còn thấp hơn cả mức giá khoảng 42.000-45.000 đồng/kg trong quý đầu năm, là mức giá thấp nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây, thấp hơn giá thành. Giá thành của người nông dân là khoảng trên dưới 50.000 đồng/kg. Dự báo, trong 1-2 niên vụ nữa, giá tiêu mới có thể khởi sắc.

Giá tiêu giảm là bởi mất cân đối cung-cầu. Trong khi cung về diện tích, năng suất, sản lượng của cả Việt Nam và thế giới tăng cao trong những năm gần đây thì nhu cầu hồ tiêu chỉ tăng ở mức độ 2-2,5%/năm. Cụ thể, năm 2013, 2014 là năm giá hồ tiêu cao nhất, khoảng 230.000 đồng/kg. Khi giá tiêu lên đến đỉnh điểm như vậy, người nông dân ở các địa phương mở rộng diện tích tiêu. Thậm chí, tiêu còn được trồng ở cả những diện tích không đủ điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu với hy vọng đạt được giá trị cao. Ngoài Việt Nam, diện tích tiêu ở các nước khác như Brazil, Campuchia… cũng tăng lên. Gộp lại, cung hồ tiêu thế giới cao hơn cầu nên giá tiêu sẽ thấp.

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương): Thời gian tới, giải pháp quan trọng để ngành hồ tiêu phát triển bền vững là phải chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, nâng tỷ lệ tiêu trắng XK đạt 30-40%, tiêu bột đạt 20% vào năm 2030; đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng thị trường yêu cầu chất lượng cao như sản phẩm tiêu hữu cơ, tiêu đỏ, tiêu xay, nhựa hồ tiêu… Hiệp hội gia vị Mỹ, Đức, châu Âu cũng đã khuyến nghị, trong xu hướng nguồn cung quá lớn, nếu Việt Nam chỉ hướng đến sản xuất hồ tiêu để ăn thì đó là một sự lãng phí. Hồ tiêu làm mỹ phẩm, nước hoa, làm nguyên liệu thứ cấp cho các ngành khác phải là con đường cần tính đến bởi nhu cầu này trên toàn cầu là rất lớn…

HẠT ĐIỀU

Đạt kỉ lục năm 2019, xuất khẩu điều đặt mục tiêu 4 tỉ USD trong năm 2020

Năm 2019 là một năm nhiều biến động của ngành điều Việt Nam và thế giới do nửa đầu năm chịu ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng năm 2018.

Tuy nhiên, trong năm nay ngành điều Việt Nam không chỉ giữ vững ngôi vị đứng đầu thế giới về xuất khẩu điều nhân mà còn ghi một kỉ lục mới là tổng số lượng hạt điều thô nhập khẩu về Việt Nam.

Theo báo cáo của Hiệp hội điều Việt Nam tại hội nghị tổng kết hoạt động ngành điều năm 2019 và triển khai phương hướng hoạt động năm 2020 diễn ra ngày 27/12 tại TP HCM, tính đến hết tháng 11/2019, cả nước xuất khẩu được 418.110 tấn nhân điều các loại với kim ngạch xuất khẩu gần 3 tỉ USD. 

Còn số này tăng 16,47% về lượng nhưng giảm 8,32% về trị giá so với 11 tháng của năm 2018. Giá điều nhân xuất khẩu bình quân là 7.269 USD/tấn, giảm 20,73% so với cùng kì.  

Bên cạnh đó, ngành điều cũng xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu như điều mật ong, điều rang muối… đạt khoảng 0,6 tỉ USD, nâng tổng giá trị xuất khẩu năm 2019 đạt 3,6 tỉ USD. Theo đó ngành điều đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch đề ra từ đầu năm. Đây cũng là năm đầu tiên ngành điều đạt được con số 3,6 tỉ USD.

Về nhập khẩu hạt điều thô nguyên liệu, Việt Nam cũng xác lập kỉ lục mới với tổng số lượng hạt điều thô nhập khẩu đạt 1.534.825 tấn, với giá nhập khẩu bình quân là 1.333 USD/ tấn, tăng 27,54% về lượng nhập khẩu và giảm 29,78% về giá bình quân so với cùng kì năm ngoái.

Năm 2020, VINACAS khuyến nghị các doanh nghiệp giảm sản lượng, tăng chất lượng với mục tiêu giữ vững vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu nhân điều với tổng kim ngach xuất khẩu đặt ra là 4 tỉ USD. 

Theo ông Nguyễn Minh Họa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam, năm 2020 vẫn là một năm khó đoán định do diễn biến phức tạp của kinh tế quốc tế, xung đột thương mại Mỹ - Trung, Mỹ - Ấn và những chính sách bảo hộ của các nước liên quan đến cả điều thô và điều nhân cùng những diễn biến trên thị trường hạt điều toàn cầu. Nhiều chuyên gia cho rằng trong 6 tháng đầu năm 2020, giá điều thô và điều nhân có thể có biến động nhưng biên độ không lớn.

Thêm vào đó, ngành điều thế giới vẫn chưa có khảo sát, đánh giá mức tăng nhu cầu tiêu dùng trong năm 2020 và những năm tới cũng như chưa hoạch định được giá đầu ra...Những vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhạy bén, thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin mới theo kịp thị trường.

(TTGCVT tổng hợp) 

 

 

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com