Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa thế giới 2019: Một năm nhìn lại
Cập nhật: 22-1-2020

Năm 2019, giá hầu hết các hàng hóa đều tăng mạnh do cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung kéo dài. Trong đó giá vàng tăng cao nhất gần 1 thập kỷ, dầu tăng mạnh nhất 3 năm, quặng sắt tăng mạnh nhất 3 năm, palađi, bạch kim, thép, đậu tương… đều tăng, trong khi khí tự nhiên giảm mạnh nhất 5 năm. Nguồn cung bị gián đoạn cũng là một nguyên nhân cơ bản đẩy giá nhiều loại hàng hóa tăng, từ việc vỡ đập của hãng khai thác mỏ Vale ở Brazil đến việc Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cắt giảm sản lượng hay sản lượng dầu cọ ở Đông Nam Á sụt giảm. 

Các nhà phân tích cho rằng kinh tế tăng trưởng chậm lại và dự báo cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung mặc dù bớt căng thẳng nhưng vẫn còn tiếp diễn chắc chắn sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới giá hàng hóa trong năm 2020.

Vàng

Tăng gần 20% trong 2019, vàng đã có một năm xuất sắc nhất trong thập kỉ qua


Chốt phiên giao dịch cuối cùng của năm 2019, giá vàng lên cao nhất trong hơn ba tháng, xác lập năm thể hiện tốt nhất trong hơn một thập kỉ. So với đầu năm, giá vàng thế giới đã tăng khoảng 20%.

Giá vàng thế giới tăng mạnh trong 2019 chủ yếu do những vấn đề địa chính trị nổi cộm như quan hệ Mỹ-Triều Tiên; xung đột quân sự tại Vùng Vịnh, cũng như sự bất ổn tại các nước Trung Mỹ; Brexit tại Anh không lối thoát và biểu tình kéo dài tại Hồng Kông (Trung Quốc)...

Mặc dù vậy, theo giới phân tích, vai trò trú ẩn tài sàn gia tăng vào vàng lại chủ yếu bắt nguồn do xung đột thương mại Mỹ-Trung Quốc leo thang với những đòn thuế quan nặng nề mà cả 2 bên dành cho nhau trong suốt cả năm qua.

Ngoài ra, chính sách nới lỏng định lượng của các ngân hàng trung ương trên thế giới trước lo ngại nền kinh tế toàn cầu suy thoái cũng hỗ trợ đà tăng giá của vàng.

Sau khi dao động quanh mức 1.300 - 1.350 USD/ounce trong 6 tháng đầu năm khi tưởng chừng cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã đi đến một thoả thuận đình chiến, giá vàng bắt đầu tăng vọt trở lại vào đầu tháng 6 vì Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ Mexico, gây lo ngại về suy thoái toàn cầu.

Tranh chấp thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế khác, cùng với việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và các ngân hàng trung ương lớn thế giới giảm lãi suất đã tiếp sức cho đà tăng kéo dài của giá vàng.

Fed đã hạ lãi suất ba lần trong năm xuống khoảng 1,5 - 175% nhưng phát đi tín hiệu không giảm thêm lãi suất trong thời gian tới trừ phi kinh tế Mỹ diễn biến xấu.

Tại Australia, ngân hàng trung ương nước này cũng quyết định hạ lãi suất lần thứ ba trong năm vào đầu tháng 10 vì nền kinh tế trì trệ, theo đó đưa lãi suất xuống 0,75%, mức lãi suất thấp lịch sử của của Australia.

Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) sau khi duy trì lãi suất ở mức âm trong thời gian dài, quyết định tiếp tục hạ lãi suất tiền gửi hôm 12/9, từ -0,4% xuống mức thấp kỉ lục mới -0,5%, đồng thời khởi động lại chương trình mua trái phiếu với qui mô 20 tỉ euro/tháng kể từ tháng 11.

Các ngân hàng trung ương cũng tích cực mua vàng dự trữ trong năm 2019, với khối lượng thu mua lên cao nhất trong 50 năm, và phá kỉ lục xác được vào năm 2018.

Giá vàng đạt đỉnh năm 2019 vào ngày 4/9, ghi nhận ở 1.560,4 USD/ounce vì lợi suất trái phiếu kì hạn 10 năm của Mỹ giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm. Đó chính là ngày tâm lý bất ổn lan rộng toàn cầu, chủ yếu do chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đang ở hồi cao điểm.

Đà tăng của giá vàng sau đó hạ nhiệt khi thông tin về việc Mỹ và Trung Quốc thống nhất được một thoả thuận xoa tan phần nào lo ngại trên thị trường quốc tế, dù vậy sự không chắc chắn của thoả thuận đã giúp giá vàng tăng trở lại trong những ngày cuối năm. Kết thúc năm 2019, giá vàng giao ngay đạt 1.519,41 USD/ounce, trong khi vàng kỳ hạn giao sau chốt ở 1.523,1 USD/ounce.

Dự báo năm 2020, vàng có thể tăng 20% lên 1.800 USD/ounce vì lo ngại suy thoái kinh tế gia tăng. Theo ước tính trung bình của các nhà kinh tế do Bloomberg khảo sát, khả năng suy thoái trong 12 tháng tới là 30%.

Hiệp hội Vận tải Quốc gia đưa ra khả năng cao hơn nhiều ở mức 80%. Vị thế cực đoan trong thị trường tương lai đã được giảm trở lại, có thể mở đường cho một đợt tăng giá khác lên gần 1.800 USD.

Trong khi Goldman Sachs giữ mức dự báo vàng 3, 6 và 12 tháng ở mức 1.600 USD/ounce, vì chỉ ra nhu cầu đầu tư sẽ được hỗ trợ bởi lo ngại về suy thoái kinh tế và bất ổn chính trị.

Ngược lại, JP Morgan nhận định khá lạc quan về thị trường trong năm tới, và khuyên khách hàng nên bán phiếu qua thị trường lựa chọn, đánh giá cao chứng khoán và đánh giá thấp trái phiếu.

Stephen Innes, Chiến lược gia thị trường châu Á của AXI Trader tin rằng giá vàng sẽ giao dịch trong khoảng từ 1.300 đến 1.600 USD mỗi ounce vào năm tới, tùy thuộc vào kết quả đàm phán thương mại và triển vọng kinh tế toàn cầu nói chung.

Jasper Lo, một nhà kinh doanh vàng kỳ cựu khác, thậm chí đoán vàng sẽ còn tăng giá hơn. Ông cho rằng giá vàng có thể tăng thêm 15% đến 20% trong năm tới, lên khoảng 1.774 USD. Giá vàng cao nhất từ trước đến nay là 1.895 USD, được ghi nhận vào tháng 9/2011.

Joshua Rotbart, Nhà sáng lập kiêm CEO J. Rotbart & Co (Hong Kong) chuyên kinh doanh vàng và các kim loại quý khác, tin rằng giá vàng sẽ tăng lên mức từ 1.580 USD đến 1.620 USD vào cuối năm 2020, tức sẽ tăng thêm 10%.

Jerry Jrearz, Giám đốc kinh doanh quốc tế của công ty môi giới First Asia Merchants Bullion (Hong Kong), cũng tin rằng giá vàng sẽ tiếp tục tăng vào năm sau. "Nền kinh tế toàn cầu và tình hình chính trị có xu hướng không được tốt trong năm tới. Bên cạnh Brexit và cuộc chiến thương mại, tình hình Trung Đông cũng rất khốc liệt", ông nhận định. Theo chuyên gia này, sa thải đang diễn ra diện rộng trong ngành ngân hàng trên toàn thế giới. Khi triển vọng kinh tế không tốt, các nhà đầu tư sẽ đặt cược vào vàng như một nơi trú ẩn an toàn. Ông đoán rằng giá vàng sẽ nằm trên mốc 1.500 USD vào năm 2020.

Theo phân tích kỹ thuật của các chuyên gia kitco thì các mức kháng cự tiếp theo đối với vàng trong quý I/2020 sẽ lần lượt tại 1.520; 1540 và 1.560 USD/ounce, gần ở mức cao kỷ lục năm đạt được tại 1.565 USD/ounce và dự báo giá vàng giao tương lai tại 1.623 USD/ounce cũng vào quý I hoặc quý II.

Kim loại công nghiệp 

Giá tăng chút ít do ảnh hưởng cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung

Chỉ số 6 kim loại công nghiệp chủ chốt trên sàn London trong năm 2019 tăng 2,4%, dẫn đầu là nickel và đồng. Nickel là một trong những kim loại có năm tăng mạnh nhất trong 1 thập kỷ, lý do bởi lệnh cấm xuất khẩu quặng nickel của Indonesia từ ngày 1/1/2020.

Giá nickel trên sàn London kết thúc năm 2019 ở mức 14.025 USD/tấn; tính chung cả năm, giá tăng 31% và đạt mức cao nhất 5 năm trong tháng 9/2019. Giá nickel trên sàn Thượng Hải năm 2019 tăng 36%.

Tuy nhiên, những kim loại cơ bản khác bị tác động tiêu cực bởi cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và tăng trưởng trên toàn cầu chậm lại. Giá đồng chỉ tăng 3,4% trong năm 2019, do cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Kết thúc năm, đồng chốt ở mức 6.175 USD/tấn. Năm 2018, giá đồng giảm gần 18%. Mặc dù vậy, giá đồng tại Thượng Hải dự báo sẽ tăng trong năm 2020 nhờ thương mại mặt hàng này tăng, được thúc đẩy bởi lĩnh vực chế tạo của Trung Quốc – hưởng lợi sau khi được giảm thuế nhập khẩu hàng hóa.

Đối với những kim loại cơ bản khác, giá nhôm giảm 0,9% xuống 1.810 USD/tấn, tính chung cả năm giảm 2%. Giá chì giảm 0,8% xuống 1.927 USD/tấn, tính chung cả năm giảm 4,9%. Giá thiếc giảm 1% xuống 17.175 USD/tấn, tính chung cả năm giảm 12% do tồn trữ tăng và nhu cầu suy yếu. Giá kẽm giảm 1,5% xuống 2.272 USD/tấn, tính chung cả năm giảm 7,8%.

Quặng sắt - thép

Năm 2019, giá quặng sắt tăng mạnh nhất trong số các loại hàng hóa, tăng 141%


Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên (Trung Quốc) đạt mức cao kỷ lục vào tháng 7/2019, hợp đồng quặng sắt giao tháng 9 trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên tăng lên 874,5 NDT/tấn (127,94 USD/tấn), mức cao nhất kể từ năm 2013. Giá quặng sắt giao ngay cũng đã vọt lên mức 123,19 USD/tấn, mức cao nhất kể từ đầu năm 2014, theo dữ liệu của Steelhome. Kết thúc năm 2019, giá quặng tăng 140% (so cuối năm 2019 với cuối 2018), đạt 648,5 CNY (93,03 USD)/tấn. Đây là mức tăng mạnh nhất trong 3 năm. Cùng thời điểm, quặng sắt trên sàn Singapore đạt 91,25 USD/tấn. Thiếu nguồn cung quặng sắt và Chính phủ Trung Quốc tăng chi tiêu cho hạ tầng cơ sở để thúc đẩy nền kinh tế - đang tăng chậm lại giữa bối ảnh chiến tranh thương mại với Mỹ - đã thúc đẩy giá quặng sắt tăng.  

Giá quặng tăng kỉ lục vào đầu tháng 7/2019

Trên sàn Thượng Hải, thép thanh cũng tăng 64% trong năm vừa qua, trong khi thép dây cuộn (wire rod) tăng 64%, còn thép cây (rebar – dùng làm cốt bê tông) tăng 1/3. Quặng sắt nhập khẩu vào Trung Quốc (hợp đồng giao ngay) tăng 28% trong năm vừa qua, kết thúc năm ở 93 USD/tấn; thời điểm giá cao nhất là ngày 3/7/2019 – khi đạt 126,5 USD/tấn.

Thị trường thép thế giới 2 tháng đầu năm 2019 duy trì đà tăng mạnh của giá quặng sắt và phôi thép. Đầu năm 2019, một số doanh nghiệp thép lớn của Trung Quốc thông báo tăng giá bán thép giao trong tháng 3. Trong đó, Baoshan Iron & Steel, công ty thép niêm yết lớn nhất Trung Quốc, sẽ tăng giá bán một số sản phẩm thép giao trong tháng 3 thêm 50 nhân dân tệ/tấn (7,3 USD/tấn).

Giá thép xây dựng tháng 4 đã đánh dấu tháng tăng trưởng tốt nhất kể từ tháng 7/2018. Hợp đồng thép cây trên Sàn giao dịch Thượng Hải đã tăng 11.3% riêng chỉ trong tháng 4, tháng tốt nhất trong 9 tháng, lên mức cao 3.828 NDT/tấn. Hợp đồng cán nóng tăng lên 3.789 NDT/tấn, cũng ghi nhận mức tăng cao 10% trong tháng.

Bước sang quý 3/19, thị trường thép toàn cầu có xu hướng tăng trưởng chậm lại. Tháng 7& 8 là thời điểm suy yếu hơn theo mùa do kỳ nghỉ hè và thời tiết nắng nóng làm chậm hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, trong tháng 7, thị trường Trung Quốc và châu Á tăng nhẹ khi có tin tức về sản lượng thép và thiêu kết bị hạn chế cho đến cuối tháng 7 tại thành phố luyện thép Đường Sơn. Điều này  giúp hỗ trợ giá thép tại thời điểm sản xuất tràn lan và nhu cầu chậm – cùng với giá quặng sắt tăng – đang ăn mòn lợi nhuận. Giá quặng sắt tăng vọt thời gian này đã gây áp lực lên các nhà sản xuất BOF/BF. Quý cuối năm, giá thép cũng như nguyên liệu thô giảm dần do nguồn cung tăng trong khi nhu cầu hạ nhiệt. Bên cạnh đó, giá cả cũng diễn biến bất ổn trong bối cảnh quan hệ thương mại Mỹ-Trung liên tục gia tăng căng thẳng, tác động tới các khía cạnh nền kinh tế cũng như tâm lý thị trường. Tuy nhiên, song song với những nhân tố gây áp lực thì giá cũng nhận được hậu thuẫn từ các yếu tố như kỳ vọng Bắc Kinh tung ra các biện pháp kích thích kinh tế để xoa dịu tổn hại từ chiến tranh thương mại, cắt giảm công suất sản xuất trong nước và tồn kho thép giảm về cuối năm, cũng như chi phí đầu vào tăng mạnh ngăn giá giảm quá sâu. Giá HRC châu Á là $434/tấn FOB Trung Quốc và $422/tấn CFR Đông Nam Á vào ngày 18/10. Giá thép cây của Mỹ giảm xuống $620-630/tấn xuất xưởng. Giá thép cây châu Á đã giảm xuống còn $415/tấn FOB Trung Quốc do giá giao ngay và giá tương lai của Trung Quốc thấp hơn. 

Dự báo năm 2020, nhà nghiên cứu hàng hóa cấp cao của Citi, Judy Su, cho biết, giai đoạn nguồn cung bị gián đoạn đã kết thúc, Brazil và Australia đang đẩy tăng sản lượng, số nhà mới xây sẽ bắt đầu giảm trong năm 2020, kéo nhu cầu sử dụng thép sẽ giảm theo. Sản lượng thép thô Trung Quốc năm 2019 đạt mức cao kỷ lục 988 triệu tấn, song sẽ giảm xuống còn 981 triệu tấn vào năm 2020, trong bối cảnh suy thoái kinh tế.

Dầu thô

Thị trường ghi nhận năm tăng giá mạnh nhất kể từ 2016


Nhìn lại thị trường dầu trong 2019, lo ngại nền kinh tế toàn cầu suy thoái, vì cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, đã ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu dầu tại các nhà nhập khẩu lớn. Tuy nhiên, lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran, cuộc tấn công vào các cơ sở của Aramco, thoả thuận giảm sản lượng dầu sâu hơn của OPEC đã phần nào hỗ trợ đà tăng đối với giá dầu thô.

Phiên giao dịch cuối cùng của năm 2019,  dầu thô Brent giảm 67 US cent tương đương 1% xuống 66 USD/thùng và dầu thô Tây Texas WTI giảm 62 US cent tương đương 1% xuống 61,06 USD/thùng. Tính chung cả năm, giá dầu Brent tăng 23% và dầu WTI tăng 34% - năm tăng mạnh nhất trong 3 năm, được hỗ trợ bởi đột phá mới đây trong các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung và cam kết cắt giảm sản lượng bởi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh.

Trong 4 tháng đầu năm 2019, dầu thô đã tăng giá liên tục do những thông tin bất ổn của khu vực Trung Đông, việc cắt giảm sản lượng của OPEC cũng như lệnh trừng phạt của Mỹ lên Iran và Venezuela.

Cả hai loại dầu đều ghi nhận đạt mức cao nhất trong năm 2019 vào ngày 24/4, tiếp đà từ những phiên trước, tăng hơn 1% sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump khiến thị trường phải bất ngờ với thông tin sẽ đưa ra biện pháp mới nhằm siết chặt lượng dầu thô xuất khẩu của Iran xuống còn 0.  

Giá dầu thô Brent. Đơn vị: USD/thùng. Giá dầu thô WTI. Đơn vị: USD/thùng.

Theo đó, giá dầu thô Brent đã vượt mức 70 USD/thùng, đạt 74,57 USD/thùng; còn giá dầu thô WTI lên mức 66,3 USD/thùng.

Tuy nhiên, tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới một lần nữa leo thang khi hai bên không thống nhất được các điều kiện để đi đến một thoả thuận khiến thị trường một lần nữa lo ngại về nền kinh tế toàn cầu, khiến giá dầu lao dốc.

Cuộc tấn công vào các mỏ dầu lớn nhất của Arab Saudi và cơ sở chế biến dầu thô lớn nhất thế giới tại Abqaiq vào tháng 9 đã đánh bay 5,7 triệu thùng dầu/ngày khỏi thị trường. Con số này chiến hơn 5% sản lượng của thế giới, và là cuộc tấn công nghiêm trọng chưa từng thấy vào cơ sở hạ tầng dầu, theo oilprice.com.

Mặc dù vậy, đây không phải là một sự gián đoạn lớn nhất, chủ yếu vì lượng dầu đá phiến khổng lồ và Arab Saudi đã xây dựng kho dự trữ dầu.

Giá dầu thô đã tăng vọt gần 20% sau thông tin về cuộc tấn công, nhưng nhanh chóng trở lại mức bình thường khi những thiệt hại được sửa chữa.

Ngoài ra, một số sự kiện khác ảnh hưởng tới thị trường như đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của Aramco vào đầu tháng 12; OPEC giảm sản lượng để kéo giá dầu tăng trở lại; và sản lượng dầu của Mỹ dự kiến đạt kỉ lục 12,8 triệu thùng/ngày.

Trung Quốc tiếp tục củng cố vị trí nước tiêu thụ dầu mỏ hàng đầu thế giới trong năm 2019, nhưng hợp đồng dầu kỳ hạn tương lai trên sàn Thượng Hải vẫn chưa trở thành hợp đồng định hướng giá dầu.

Dự báo xu hướng tăng sẽ còn tiếp diễn trong năm 2020 do nguồn cung vừa phải nhưng nhu cầu cũng không cao, trong bối cảnh Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cắt giảm sản lượng. Tuy nhiên, khả năng giá sẽ không tăng mạnh.

Giới chuyên gia dự báo giá dầu “sẽ duy trì” ở quanh 70 USD/thùng, nhưng có thể tăng lên đến 80 USD/thùng nếu như các cuộc giao tranh lan sang những khu vực sản xuất dầu trọng điểm nằm về phía nam Iraq, hoặc phía Iran sẽ thắt chặt kiểm soát hoạt động vận chuyển dầu qua lãnh hải quốc gia này.

Với việc OPEC và đồng minh nâng tổng sản lượng giảm và tăng trưởng kinh tế mạnh hơn tại các thị trường mới nổi, JP Morgan đã nâng triển vọng giá dầu và dự báo cân bằng cung - cầu sẽ thắt chặt trong năm 2020.

Theo đó, ngân hàng đầu tư điều chỉnh dự báo giá dầu Brent lên 64,5 USD/thùng trong năm 2020 từ mức 59 USD trước đó, dù dự đoán giá sẽ giảm còn 61,5 USD vào 2021.

Giá dầu WTI của Mỹ cũng ghi nhận xu hướng tương tự với ước tính lên 60 USD/thùng vào 2020 và xuống còn 57,5 USD trong năm 2021.

JP Morgan tiếp tục dự đoán tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới đạt 1 triệu thùng/ngày.

Trong khi đó, Morgan Stanley nhận định kế hoạch giảm sâu lượng sản xuất của OPEC và các nhà sản xuất dầu đồng minh trong quí I/2020 sẽ chỉ hỗ trợ thị trường trong ngắn hạn.

Ngân hàng đã hạ dự báo sản xuất năm 2020 của OPEC xuống 0,4 triệu thùng/ngày xuống còn 29,2 triệu thùng/ngày sau khi các nhà sản xuất dầu do Arab Saudi dẫn đầu và Nga đồng ý giảm sản lượng trong quí I/2020 nhưng sẽ dừng thực hiện thoả thuận sau tháng 3, theo Reuters.

Bất chấp thoả thuận giảm sản xuất, ngân hàng dự đoán nguồn cung ngoài OPEC sẽ tăng khoảng 1,8 triệu thùng/ngày vào năm tới, với tốc độ tăng trưởng sản xuất hàng tháng của Mỹ là 50.000 thùng/ngày.

Ngân hàng ước tính thặng dư cung vừa phải trong năm tới, ngay cả khi nhu cầu dự kiến sẽ tăng tốc trở lại với một số hỗ trợ từ các qui tắc IMO 2020 sắp tới.

Morgan Stanley nhận thấy giá dầu thô Brent sẽ đạt 62,50 USD/thùng trong quí I/2020, nhưng đã hạ dự báo xuống còn 60 USD cho tới hết năm 2020.

Giá dầu thô ngọt nhẹ WTI của Mỹ dự kiến sẽ giữ ở mức 57,5  USD/thùng trong quí đầu tiên và 55 USD cho phần còn lại của năm sau.

Còn theo Bloomberg, Goldman Sachs tăng dự báo giá dầu thô Brent thêm 3 USD/thùng so với mức dự báo đưa ra trước đó lên 63 USD/thùng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn, mức giá sẽ chỉ ở mức 55 USD/thùng.

Đối với giá dầu WTI giao ngay, Goldman Sachs dự báo giá sẽ ở 58,5 USD/thùng và dài hạn ở mức 50 USD/thùng.

Ngoài ra, ngân hàng này cũng dự báo nguồn cung dư thừa sẽ thu hẹp thêm 0,3 triệu thùng/ngày. Tuy nhiên, Goldman Sachs vẫn chưa tính rủi ro từ việc các nước Iraq, Nigeria và Nga không tuân thủ chặt chẽ thỏa thuận giảm sản lượng khai thác.

Goldman Sachs giữ nguyên dự báo sản lượng dầu đá phiến Mỹ tăng thêm 600.000 thùng/ngày trong năm 2020.

Khí gas

Giá giảm mạnh nhất 5 năm và là một trong những hàng hóa giảm mạnh nhất năm 2019


Sau khi gần như không thay đổi trong năm 2018, khí tự nhiên hóa lỏng giảm giá mạnh trong năm 2019 do nguồn cung khí đốt tự nhiên mới cho thị trường cao kỷ lục trong khi kinh tế toàn cầu chậm lại, kể cả ở Trung Quốc và Ấn Độ, ảnh hưởng tới nhu cầu khí gas – nhiên liệu sạch nhưng còn đắt đỏ nếu dùng để sản xuất điện. Đây là 1 trong những hàng hóa giảm mạnh nhất trong năm vừa qua.

Khí gas giảm giá trung bình khoảng 28% năm vừa qua. Cụ thể, tại Châu Á, giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) đã giảm 43% trong năm 2019 so với một năm trước đó, do tình trạng cạnh tranh mạnh mẽ khiến nguồn cung vượt xa nhu cầu sử dụng. Từ mức hơn 10 USD/mmBtu cuối năm 2018, giá giảm còn khoảng 5,7 USD/mmBtu vào cuối năm 2019. Mùa hè năm 2019 có lúc giá chỉ khoảng 4 USD/mmBtu, thấp nhất trong vòng 3 năm. khi nhu cầu từ các hộ gia đình giảm. Trong khi đó khí gas Mỹ giảm 25,5% và kết thúc năm ở 2,189 USD/mmBtu. Australia và các nơi khác, khiến nguồn cung dư thừa. Để so sánh, giá LNG thậm chí còn ở mức gần 20 USD/mmBtu vào mùa Đông năm 2014.

Phiên giao dịch cuối năm 2019, giá khí gas kỳ hạn tháng 2/2020 trên sàn New York tăng 0,3 US cent tương đương 0,1% lên 2,189 USD/mmBTU, trong ngày 27/12 giá khí gas chạm 2,138 USD/mmBTU, thấp nhất kể từ ngày 23/8/2019. 

Các chuyên gia phân tích cho rằng có rất ít cơ hội để chứng kiến một sự tăng trưởng trên thị trường LNG trong tương lai gần, khi nền kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng chậm lại.

Vào tháng 5/2019, nhà máy Cameron ở bang Louisiana của Mỹ đã bắt đầu sản xuất hết công suất. Đến mùa Thu, nhà máy Freeport ở Texas cũng tham gia thị trường. Trong khi đó tại Australia và Nga, các dự án nhận vốn đầu tư từ đầu những năm 2010, khi các thị trường mới nổi phát triển nhanh chóng, cũng đã bắt đầu hoạt động.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng dư thừa nguồn cung tại châu Á một phần là do các công ty khí đốt tự nhiên của Mỹ đang tăng cường xuất khẩu sang khu vực này, nhằm tận dụng các vị trí quá cảnh mới tại Kênh đào Panama - một dự án mới được hoàn thành vào năm 2016, để cung cấp nhiên liệu với giá rẻ và nhanh chóng đến phía bên kia địa cầu.

Xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Mỹ đã tăng 60% lên khoảng 22 triệu tấn trong giai đoạn tháng 1-8/2019, với phần lớn trong số này là đến châu Á. Các chuyến hàng đến Nhật Bản đã tăng 60% khi Tokyo tìm cách đa dạng hóa nguồn cung. Trong khi đó, lượng LNG xuất khẩu sang Singapore, Thái Lan và Hàn Quốc cũng tăng mạnh, giúp bù đắp đến 90% lượng thâm hụt cho các chuyến hàng từ Mỹ đến Trung Quốc do tác động của chiến tranh thương mại.

Hầu hết các trung tâm LNG của Mỹ nằm ở bờ biển phía Đông và dọc theo Vịnh Mexico, có nghĩa là Kênh đào Panama là tuyến đường ngắn nhất và rẻ nhất để vận chuyển LNG đến châu Á ngay cả khi có phí cầu đường. Do đó, đây là tuyến đường rất được ưa chuộng. Tổng cộng có 399 tàu sân bay LNG đã đi qua Kênh đào Panama trong năm tài chính kết thúc vào tháng 9/2019, so với con số 163 tàu của hai năm trước đó.

Bên cạnh tình trạng cạnh tranh gia tăng, các chuyên gia cho rằng giữa bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang "hụt hơi" với những xung đột thương mại, nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng lớn sẽ chậm lại, cũng là một trong những nguyên nhân làm chỉ số tăng trưởng trên thị trường LNG lao dốc. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng lượng tồn kho LNG đối với các nhà nhập khẩu đến từ châu Âu và Trung Quốc.

Cao su

Thị trường khởi sắc trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ vẫn duy trì ổn định, trong khi 3 nhà cung cấp lớn thực hiện cắt giảm xuất khẩu 


Đầu năm 2019, giá cao su trên thị trường thế giới tăng mạnh.  Nguyên nhân chủ yếu nhờ tâm lý lạc quan về đàm phán thương mại Mỹ - Trung Quốc và nguồn cung cao su từ các nước sản xuất lớn có dấu hiệu sụt giảm do yếu tố mùa vụ.

Tiếp đến, Trung Quốc thông báo sẽ trợ cấp cho người mua ô tô trên toàn quốc nhằm kích thích tiêu thụ mặt hàng này, giúp thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu nguyên liệu cao su dùng trong sản xuất săm lốp xe. Hiện tại Trung Quốc đang là thị trường tiêu thụ cao su lớn trên thế giới (chiếm 40% thị phần). 

Mặt khác, ngay từ đầu năm 2019, 3 quốc gia sản xuất cao su lớn tại khu vực ASEAN là Thái Lan, Indonesia và Malaysia (chiếm khoảng 70% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới) đã đưa ra kế hoạch giảm số lượng cao su xuất khẩu để đẩy giá tăng hơn. Theo đó, các nước này dự kiến sẽ giảm khoảng 300.000 tấn cao su xuất khẩu trong năm 2019 này.

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung tiếp tục leo thang, nhu cầu tiêu thụ cao su của Trung Quốc suy yếu, từ đó kích thích làn sóng bán tháo trên thị trường này trong suốt tháng 3. Bước sang tháng 4, dù quan hệ thương mại giữa hai 2 kinh tế lớn nhất thế giới vẫn bế tắc, giá cao su thế giới lại có xu hướng phục hồi. Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), giá cao su giao kỳ hạn tháng 6 chốt ngày 31/5 ở 194.2 yên/kg (tương đương 1,8 USD/kg), tăng 2,6% so với cuối tháng 4 và tăng 9,7% kể từ đầu năm.

Giá cao su tăng do các nhà đầu tư đẩy mạnh mua vào trước thông tin 3 quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, gồm Thái Lan, Malaysia và Indonesia, triển khai kế hoạch giảm xuất khẩu 240,000 tấn cao su.

Theo kế hoạch được thông qua, Indonesia sẽ giảm 98,160 tấn cao su xuất khẩu trong 4 tháng bắt đầu từ ngày 1/4. Tương tự, Malaysia và Thái Lan sẽ lần lượt giảm 15,600 tấn và 126,240 tấn từ ngày 20/5, Jakarta Post cho biết. Theo Cơ quan Hải quan Thái Lan, trong 4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su của Thái Lan giảm 2.8% so với cùng kỳ năm ngoái và đạt 1.74 triệu tấn cao su.

Đợt nắng nóng tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc cũng tác động mạnh lên thị trường cao su khi thời tiết buộc các nhà vườn phải giảm khai thác mủ. Tỉnh Vân Nam là địa phương cung cấp 50% tổng sản lượng cao su của Trung Quốc.

Cũng theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên, nguồn cung cao su thiên nhiên giảm do giá cao su xuống thấp nên các hộ nông dân tại một số thị trường chủ chốt hạn chế khai thác mủ và dịch bệnh rụng lá mới bùng phát ở Indonesia.

Giá cao su thế giới thiết lập đỉnh cao 52 tuần trong phiên 12/6/2019 với mức giá 232 JPY/kg.

Những tháng cuối năm 2019 thị trường chịu nhiều áp lực do nguồn cung tăng trở lại và nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc sụt giảm.

Dự báo năm 2020, thị trường cao su tiếp tục khởi sắc bởi, thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có triển vọng khả thi, đạt được từng phần. Bên cạnh đó, thị trường hy vọng việc cắt giảm lãi suất của Trung Quốc sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích thích nhu cầu tiêu thụ cao su.

Ngoài ra, dự báo nguồn cung cao su nói chung giảm và sức ép tăng thu nhập cho người trồng cao su tại quốc gia sản xuất cao su tự nhiên hàng đầu thế giới là Thái Lan cũng là nguyên nhân tác động tới thị trường cao su năm 2020. 

Bông

Giá giảm năm thứ 2 liên tiếp


Giá bông năm 2019 giảm do lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung làm giảm tiêu thụ bông trên toàn cầu (bởi Mỹ và Trung Quốc là hai nước xuất khẩu và tiêu thụ bông hàng đầu thế giới.

Trên sàn New York, bông kỳ hạn giao sau 3 tháng kết thúc năm 2019 ở mức giá 69,05 US cent/lb, giảm 4,4% so với cuối năm 2018.

Giá bông trên sàn Trịnh Châu cũng giảm mạnh trong năm 2019 do cuộc chiến thương mại khiến nhu cầu sản phẩm dệt cũng giảm theo. Tuy nhiên, năm 2020 mặt hàng này có thể được hưởng lợi bởi cuộc chiến thương mại dịu lại.

Giá dầu thực vật 

Dầu cọ tăng mạnh nhất trong 1 thập kỷ


Giá dầu cọ tại Malaysia giảm trở lại trong ngày cuối cùng của năm 2019, do hoạt động bán ra chốt lời song có năm tăng mạnh nhất trong 1 thập kỷ, bởi dự kiến sản lượng giảm và tiêu thụ tại các nước sản xuất hàng đầu Indonesia và Malaysia tăng.

Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 3/2020 trên sàn Bursa Malaysia giảm 80 ringgit tương đương 2,6% xuống 3.046 ringgit (744,93 USD)/tấn, sau 4 phiên tăng liên tiếp. Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2019 giá dầu cọ tăng 44%, với mức giá trung bình trong năm 2019 đạt 2.560 ringgit/tấn- cao nhất kể từ năm 2009.

Theo dữ liệu chính thức công bố ngày 10/12 của Chính phủ Malaysia, dự trữ dầu cọ của nước này đã giảm 4,1%, xuống còn 2,3 triệu tấn trong tháng 11/2019, mức thấp nhất trong ba tháng qua, giữa bối cảnh sản lượng yếu kém tạo sức ép lên hoạt động xuất khẩu.

Hiệp hội Dầu cọ Malaysia và Hiệp hội các nhà máy Dầu cọ Bán đảo miền Nam nước này lần lượt dự báo sản lượng dầu cọ tháng 12/2019 giảm 16% và 27% so với tháng 11/2019, giảm mạnh hơn so với dự kiến. Trong khi đó, tiêu thụ dầu cọ nội địa tại Malaysia và Indonesia dự kiến sẽ tăng khi cả hai nước đều yêu cầu thành phần dầu cọ trong chương trình dầu sinh học 2020 tăng cao.

Xuất khẩu dầu cọ của Malaysia trong tháng 12/2019 giảm 4,9%-6,7%, các nhà khảo sát hàng hóa Intertek Testing Services và Amspec Malaysia cho biết. Mặc dù xuất khẩu dầu cọ của Malaysia sang các thị trường chủ lực đều giảm trong thời gian qua, song lượng dầu cọ nước này xuất khẩu sang Trung Quốc trong tháng 11 lại tăng 23,5% so với tháng trước đó, đạt 340.230 tấn, chủ yếu do hoạt động mua vào được đẩy mạnh trước thềm Tết nguyên đán, trong khi quan hệ thương mại giữa Malaysia và Trung Quốc được cải thiện. Malaysia đã ký một bản ghi nhớ với Phòng Thương mại xuất nhập khẩu thực phẩm, sản phẩm tự nhiên và phụ phẩm vật nuôi Trung Quốc nhằm tăng lượng xuất khẩu dầu cọ thêm 1,9 triệu tấn sang Trung Quốc trong giai đoạn 2019-2023. Nhà sản xuất dầu cọ lớn thứ hai thế giới này cũng "bắt tay' với Sở giao dịch hàng hóa Bột Hải (Trung Quốc) về việc cam kết cung cấp cho Trung Quốc khoảng 1,5 triệu tấn dầu cọ trong năm 2020.

Giới phân tích vẫn lạc quan về triển vọng giá dầu cọ trong năm 2020 do sản lượng dầu cọ của hai nước sản xuất lớn nhất thế giới là Malaysia và Indonesia có thể bị hạn chế do thời tiết khô hạn trên toàn Đông Nam Á.

Báo cáo ngày 11/12/2019 của hãng nghiên cứu thị trường MIDF Research cho hay, nguồn cung bị thắt chặt và nhu cầu tiêu thụ dự kiến tăng từ các nước nhập khẩu dầu cọ chủ chốt như Trung Quốc vẫn giúp giá mặt hàng này tiếp tục tăng trong năm tới. Hãng này dự báo giá dầu cọ thô sẽ lần lượt đạt mức 2.450 và 2.600 ringgit/tấn vào năm 2020 và 2021. MIDF Research dự báo xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra trong năm tới, với các thỏa thuận thương mại gần đây giữa hai nước.

Đối với dầu đậu tương, Trung Quốc thường nhập khẩu đậu tương về ép lấy khô dầu để chăn nuôi, khi đó dầu đậu tương là sản phẩm phụ của khô dầu. Nhu cầu thức ăn chăn nuôi giảm kéo theo sản lượng dầu đậu tương cũng giảm và đẩy giá dầu đậu tương tăng thêm gần 1/5 trong năm 2019. Dầu cọ - sản phẩm cạnh tranh với dầu đậu tương – trên sàn Đại Liên và dầu hạt cải trên sàn Trịnh Châu cũng tăng tương tự.

Dự báo Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu đậu tương trong năm 2020 vì đàn lợn được khôi phục dần. Do đó, nguồn cung dầu đậu tương cũng sẽ tăng lên, gây áp lực lên giá dầu ăn.

Thức ăn chăn nuôi

Giá đậu tương, ngô và lúa mỳ đồng loạt tăng


Thị trường thức ăn chăn nuôi thế giới trong năm 2019 đồng loạt tăng, trong đó đậu tương tăng 6,8%, ngô tăng 3,4% và lúa mì tăng 11% 

Giá lúa mì, ngô và đậu tương tại Mỹ có năm tăng sau thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung "giai đoạn 1", thúc đẩy xuất khẩu nông sản và hỗ trợ giá tăng.

Trên sàn Chicago, giá đậu tương kỳ hạn tháng 3/2020 kết thúc năm 2019 ở mức giá 9,55-1/2 USD/bushel, cao nhất 18 tháng. Tính chung cả năm giá đậu tương tăng 6,8%. Giá lúa mì giao cùng kỳ hạn kết thúc năm ở mức 5,58-3/4 USD/bushel, thấp hơn mức cao đỉnh điểm 16 tháng (5,64-1/2 USD/bushel) trong phiên trước đó; tính chung cả năm 2019, giá lúa mì tăng 11% và là năm tăng thứ 3 liên tiếp do nguồn cung bị sụt giảm ở bán cầu Nam, nhất là Australia – nơi đã bị hạn hán suốt 3 năm nay. Giá ngô kỳ hạn tháng 3/2020 giảm 1/2 US cent xuống 3,87-3/4 USD/bushel. Tính chung cả năm 2019, giá ngô tăng 3,4%.

Trong năm 2020, thị trường ngũ cốc dự báo sẽ chịu tác động từ một số yếu tố như: nguồn cung của Brazil, nhu cầu ở Trung Quốc…

Trung Quốc là nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới và thỏa thuận này đã giúp giá đậu tương hồi phục trở lại từ mức thấp nhất 10 năm trong tháng 5/2019, do lo ngại nhu cầu bị ảnh hưởng bởi tranh chấp thương mại. Các thương nhân vẫn chờ đợi doanh số bán ra của Mỹ sang Trung Quốc. Tổng doanh số bán ngô của Mỹ gặp nhiều trở ngại trong năm 2019, trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dồi dào.

Thịt lợn 

Giá thịt lợn trên toàn cầu năm 2019 tăng do dịch tả lợn Châu Phi


Tại Mỹ, giá trên sàn Chicago tăng 7,9% trong năm 2019, theo đó hợp đồng lợn nạc kỳ hạn tháng 2/2020 kết thúc năm ở 71,425 US cent/lb. Nguyên nhân giá tăng bởi kỳ vọng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng nhập khẩu thịt lợn Mỹ. Xuất khẩu thịt lợn Mỹ sang Trung Quốc đại lục và Hongkong trong 10 tháng đầu năm 2019 tăng 55% về khối lượng và 34% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Ở Trung Quốc, giá thịt lợn năm 2019 biến động rất mạnh: giá lợn hơi duy trì ở mức thấp 12 - 14 CNY/kg trong 3 tháng đầu năm 2019, bắt đầu từ tháng 4/2019 liên tục tăng mạnh, lên mức kỷ lục vào tuần cuối tháng 10/2019 đạt 54 CNY/kg (tương đương 177.000 đ/kg, gấp 1,4 lần so với tháng 9/2019 và gấp 4,4 lần so với hồi đầu năm 2019) do dịch tả lợn Châu Phi. Tuy nhiên, từ tháng 11/2019 giá bắt đầu giảm và kết thúc năm 2019 ở mức 34- 35 CNY/kg, giảm 36% so với mức kỷ lục hồi cuối tháng 10/2019 nhưng vẫn tăng rất mạnh gấp 2,8 lần so với đầu năm 2019. Dịch tả lợn đã khiến 40% đàn lợn của nước này bị chết.

Dịch tả lợn châu Phi bùng phát đã giết chết 100 triệu con lợn ở Trung Quốc. Tình trạng này khiến giá thịt lợn tại Trung Quốc tăng gấp đôi từ đầu năm 2019. Bắc Kinh đã có nhiều chính sách để cải thiện nguồn cung như hỗ trợ nông dân tái đàn, xả kho đông lạnh dự trữ, nhập khẩu... Trung Quốc cũng vừa tuyên bố giảm thuế cho thịt lợn đông lạnh để bù đắp nguồn cung thiếu hụt.

Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc, nhập khẩu thịt lợn tháng 11 tăng hơn 150% so với cùng kỳ năm 2018, lên gần 230.000 tấn. Đây là mức cao nhất kể từ năm 2016 khi thị trường tiêu thụ lợn nhiều nhất thế giới đối mặt với cơn khủng hoảng nguồn cung.

Mức nhập khẩu tháng 11 cũng tăng 30% so với mức gần 180.000 tấn hồi tháng 10. 11 tháng năm 2019, Trung Quốc nhập hơn 1,7 triệu tấn thịt lợn, tăng 58% so với năm trước. Ngoài thịt lợn, Trung Quốc cũng nhập khẩu gần 78.000 tấn thịt gà và 1,47 triệu tấn thịt bò, tăng lần lượt 71% và 57,3% so với năm 2018.

Rabobank dự báo năm 2020 và 2021 Trung Quốc sẽ tái đàn qui mô nhỏ và nhập khẩu qui mô lớn trước khi sản lượng lợn tăng cho tới năm 2025, thời điểm thị trường cân bằng trở lại và giá ổn định. Theo ngân hàng này, kể cả tới năm 2025, tổng đàn lợn của Trung Quốc cũng chưa thể đạt mức của năm 2018.

Hạt tiêu

Giá tiếp tục giảm 4 năm liên tiếp


Giá hạt tiêu trên thị trường Malaysia đã giảm năm thứ 4 liên tiếp và có thể vẫn chưa chạm đáy. Cụ thể, giá tiêu trắng Kuching loại 1 kết thúc năm 2019 ở mức 12.720 ringgit/tấn, trong khi tiêu đen là 6.700 ringgit/tấn. So với cuối năm 2018 thì giá tiêu trắng đã mất khoảng 35%, trong khi tiêu đen mất khoảng 28%. Sản lượng hạt tiêu Malaysia năm 2019 ước khoảng 17.000 – 18.000 tấn, thấp hơn mức 20.000 tấn của những năm trước.

Đáng chú ý, giá tiêu Malaysia không ngừng giảm trong khi giá tiêu của một số nước như Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ… hồi phục nhẹ trong thời gian gần đây. Mặc dù vậy, giá vẫn chưa bằng mức của cuối năm 2018.

Tại Ấn Độ, giá tiêu đen kết thúc năm 2019 ở mức khoảng 330 - 350 rupee/kg. Tuy nhiên, vào tháng 10/2019, giá đã xuống dưới 300 rupee/kg, mức thấp nhất trong vòng một thập kỷ do nguồn cung dư thừa trên thị trường toàn cầu và lượng nhập khẩu vào Ấn Độ tăng. Giá hạt tiêu Ấn Độ gần đây liên tiếp duy trì cao nhất thế giới, cao gần gấp đôi so với tiêu Việt Nam, Brazil và Indonesia, và cao hơn khoảng 20% so với tiêu Malaysia. Mấy năm qua, hàng năm nước này chỉ sản xuất được 50.000 – 60.000 tấn tiêu.

Nguồn cung hạt tiêu toàn cầu năm 2020 dự báo sẽ tiếp tục dư thừa bởi sản lượng khoảng 600.000 tấn trong khi tiêu thụ chỉ 450.000 tấn. Do đó, giá dự báo sẽ còn chịu áp lực giảm thêm nữa.

Sữa

Giá tăng mạnh do sản lượng giảm


Giá sữa trên thị trường thế giới năm 2019 tăng khá mạnh do sản lượng ở Bắc Âu và Australia giảm trong khi nhu cầu tại Trung Quốc tăng.

Tại Châu Đại Dương, giá sữa bột tách kem trung bình năm 2019 tăng 31,99% so với năm 2018, lên 2.632 USD/tấn; kết thúc năm 2019, giá loại sữa này ở mức 3.088 USD/tấn. Sữa bột nguyên kem giá bình quân năm 2019 là 3.140 USD/tấn, tăng 4,82% so với năm 2018; loại này kết thúc năm 2019 ở mức 3.375 USD/tấn – cao nhất kể từ tháng 8/2015. Trong khi đó tại Châu Âu, giá sữa bột nguyên kem trung bình năm 2019 là 2.940 EUR/tấn, tăng 7,3% so với năm 2018; kết thúc năm loại này ở mức 3.042 EUR/tấn – cao nhất kể từ tháng 4/2016.

Giá cà phê arabica tăng khoảng 30% trong năm 2019, trong khi cao su tại Tokyo tăng thêm gần 1/5, còn đường thô tăng hơn 10%.

Đường

Giá tăng năm đầu tiên sau 2 năm giảm liên tiếp


Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2020 trên sàn ICE kế thúc năm 2019 ở mức 13,43 US cent/lb. Tính chung cả năm, giá đường thô tăng 11,6% - năm tăng đầu tiên sau 2 năm giảm liên tiếp. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 3/2020 trên sàn London kết thúc năm 2019 ở mức 359,2 USD/tấn và trong cả năm 2019 cũng tăng 8%.

Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) vừa công bố báo cáo về thương mại và thị trường thế giới vào 21-11. Theo đó, dự báo sản lượng đường toàn cầu sẽ giảm 6 triệu tấn từ tháng 10/2019 so với niên vụ trước, về mức 174 triệu tấn trong niên vụ 2019/2020. Mức giảm này chủ yếu là do sản lượng đường và diện tích trồng mía từ Ấn Độ. Quốc gia này có thể chứng kiến sản lượng đường giảm đến 5 triệu tấn trong niên vụ 2019/2020, rơi về mức 29,3 triệu tấn vì năng suất và diện tích trồng mía đều giảm.

Mức tiêu thụ đường toàn cầu lại tiếp tục tăng trong năm 2020 chủ yếu vì nhu cầu tăng lên mức kỷ lục ở Ấn Độ, ước tính sẽ đạt mức kỷ lục 28,5 triệu tấn trong niên vụ mới. Xuất khẩu đường của thế giới sẽ không tăng so với năm ngoái và các kho dự trữ đường của các nước được dự sẽ giảm 5%, về mức 50 triệu tấn. Dù vậy, theo USDA, xuất khẩu đường của Ấn Độ sẽ đạt 5 triệu tấn trong năm 2020 do nước này đang nắm giữ lượng đường tồn kho cao mức ở kỷ lục 14,5 triệu tấn.

Cũng theo USDA, sản lượng đường của Mỹ sẽ giảm 4% về mức 7,8 triệu tấn trong niên vụ mới vì điều kiện thời tiết không thuận lợi khiến năng suất của củ cải đường suy giảm. Năm tới, Mỹ có thể nhập khẩu 2,9 triệu tấn đường, tăng nhẹ so với niên vụ này. Sản lượng đường tại Brazil được dự báo giảm nhẹ về mức 29,4 triệu tấn vì phần lớn sản lượng mía được chuyển sang để sản xuất cồn sinh học ethanol. Trong khi đó, chỉ khoảng 35% sản lượng mía phục vụ cho sản xuất đường. USDA nhận định xuất khẩu đường của Brazil sẽ giảm 1 triệu tấn so với năm ngoái, rơi về con số 18,6 triệu tấn, thấp nhất trong 12 năm qua.

Sản lượng đường của Liên minh châu Âu (EU) sẽ tăng nhẹ lên mức 17,9 triệu tấn trong niên vụ mới nhưng do mức tiêu thụ cao hơn nguồn cung nên EU sẽ nhập khẩu ròng đường khoảng 0,5 triệu tấn. Sản lượng đường của Thái Lan được dự báo giảm 1 triệu tấn, về mức 13,5 triệu tấn. Trong khi đó, sản lượng đường cùa Trung Quốc sẽ tăng nhẹ lên mức mức 10,9 triệu tấn nhờ diện tích trồng mía và củ cải đường được mở rộng.

Một báo cáo gần đây của ngân hàng Rabobank (Hà Lan) dự báo thị trường thế giới trong niên vụ 2019/2020 sẽ thiếu hụt 5,2 triệu tấn, mức cao nhất trong 4 năm qua. Do vậy, báo cáo nhận định giá đường thô tương lai trên sàn giao dịch ICE sẽ tăng ổn định lên mức 14 US cent/lb vào quí 4/2020.

Luca Meierhofer, một lãnh đạo tại tập đoàn kinh doanh nông sản Louis Dreyfus (Hà Lan) dự báo thị trường đường sẽ thiếu hụt đến 6,7 triệu tấn trong niên vụ mới do sản lượng suy giảm đáng kể ở bắc bán cầu. Tuy nhiên, ông cho rằng lượng đường tồn kho lớn ở Ấn Độ, Thái Lan và Brazil cũng như nhu cầu tiêu thụ đường trên toàn cầu tăng chậm sẽ hạn chế tác động của mức thiếu hụt này lên giá đường tương lai. Do đó, Luca dự đoán giá đường tương lai sẽ dao động trong khoảng 11-14 US cent/lb trong năm tới. Với mức giá vẫn chưa tăng nhiều, các nước sản xuất đường sẽ không sốt sắng gia tăng sản lượng trong tình hình này.

Cà phê

Giá cà phê Arabica tăng trong khi cà phê robusta giảm


Giá cà phê Arabica vừa trải qua năm tăng mạnh do các nhà đầu tư vẫn lo ngại về nguồn cung toàn cầu thắt chặt. Giá cà phê Arabica trên sàn New York kết thúc năm 2019 ở mức 1,297 USD/lb; tính chung cả năm 2019  tăng 27% sau khi giảm trong 2 năm liên tiếp 2017 và 2018. Giá cà phê robusta trên sàn London kết thúc phiên cuối năm 2019 ở mức 1.382 USD/tấn, tuy nhiên, tính chung cả năm giảm 9,4% - năm giảm thứ 3 liên tiếp.

Brazil, quốc gia cung cấp cà phê hòa tan lớn nhất thế giới, đang đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Đông Nam Á, đặc biệt hướng tới những quốc gia đối thủ trong đó có Việt Nam. Theo Bloomberg, trong tháng 11, khối lượng cà phê hòa tan xuất khẩu của Brazil sang Đông Nam Á cao hơn 4,4% so với cùng kì năm 2018.

Vụ mùa cà phê robusta tại Brazil bội thu cùng với đồng real mất giá đã tạo lợi thế về chi phí xuất khẩu trong năm 2019. Cụ thể, đầu năm ngoái, chi phí nguyên liệu thô sản xuất cà phê hòa tan của Brazil thấp hơn 5% so với Việt Nam. Sau đó, mức chênh lệch này được nâng lên khoảng 15%. Năm 2019, Brazil xuất khẩu cà phê đạt kỷ lục lịch sử với khoảng trên 41 triệu bao.

Nhìn từ phía cung - cầu, 2019 cũng là năm thế giới được mùa cà phê. Sản lượng cà phê toàn cầu năm 2019 được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đánh giá đạt 174,6 triệu bao (loại 60 kg) hay gần 10,5 triệu tấn. Trong đó, Brazil đạt gần 60 triệu bao, Colombia 14, Việt Nam 30 và Indonesia chừng 10 triệu bao, chỉ 4 nước lớn chiếm gần 65% sản lượng cà phê thế giới.

Dự báo thị trường trong năm 2020, cà phê là mặt hàng này rất nhạy cảm với thời tiết nhất là trong thời kỳ thời tiết cực đoan. Mặt khác, cà phê đang được trồng rải rác tại các quốc gia trong và cận vùng nhiệt đới nên cà phê được thu hoạch quanh năm. Do thị trường cà phê - từ các sàn phái sinh đến các thị trường xuất khẩu từng nước, hầu hết đều dựa trên đồng USD - nên càng nhạy cảm với các biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô thế giới và thị trường tài chính toàn cầu.

Tóm lại, bức tranh kinh tế vĩ mô nhìn chung đang tạo điều kiện tốt cho giá hàng hóa thương phẩm, trong đó có 2 sàn cà phê. Nếu thương chiến Mỹ - Trung Quốc hạ nhiệt, đó có thể là lúc các nước đưa ra những chương trình kích cầu, bơm tiền cho nền kinh tế, hạ lãi suất cơ bản…nhất là đồng USD có cơ hội rẻ hơn.

Nhưng đối với một nước sản xuất cà phê, cách mua bán hợp lý là yếu tố quan trọng nhất để tạo cơ hội cho giá đi lên như xoay vòng vốn nhanh, không tìm cách găm hàng để đầu cơ giá lên, giảm treo các hợp đồng bán (long differential) càng nhiều càng tốt.

(TTGCVT tổng hợp)

 

Các tin khác
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com